Phần 1 – Chương 6

NHỮNG  DO ĐỂ LẠC QUAN

TẠI SAO TA CẦN PHẢI LẠC QUAN KHI ĐỐI MẶT VỚI MỌI KHÓ KHĂN, THẤT BẠI HAY NGHỊCH CẢNH

Lạc quan  cội rễ của lòng dũng cảm. ” – Nicholas Murray Butler

CÓ NHỮNG NGƯỜI không thông minh hay chăm chỉ hơn người khác nhưng khi đi học lại đạt điểm cao hơn. Cơ thể họ cũng không có gì khác biệt so với chúng ta, nhưng họ rất ít khi bị bệnh. Họ không có lợi thế về gen di truyền, nhưng họ sống lâu hơn chúng ta, trung bình, khoảng bảy năm rưỡi. Ngay khi họ bị bệnh, dù phương pháp chữa trị mà họ nhận được cũng như các bệnh nhân khác, nhưng nhóm người này có tốc độ phục hồi nhanh hơn và toàn diện hơn. Những người này tuy không có kỹ năng gì đặc biệt hay được đào tạo tốt hơn, nhưng những việc họ làm lại vượt trội hơn các đồng nghiệp và đối thủ tới khoảng 88%. Họ cũng kiếm được nhiều tiền hơn và đạt tới những địa vị cao hơn. Trong hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống, những người này có xu hướng thành công và gặt hái những thành quả lớn hơn những người khác. Quan trọng hơn, dường như họ có sở trường tìm ra được mặt tích cực của bất cứ trải nghiệm tiêu cực nào. Những người này không thuộc về một chủng tộc, màu da hay tín ngưỡng đặc biệt nào. Điều duy nhất khiến họ khác biệt so với đám đông chính là thái độ và quan điểm của họ về cuộc sống. Họ là những người lạc quan.

Các nhà tâm lý học định nghĩa người lạc quan là người thường mong đợi điều tốt xảy đến. Người bi quan, ngược lại, thường lo sợ điều xấu xảy ra. Điều khác biệt duy nhất nằm ở việc họ trông đợi, tin tưởng vào tương lai, nhưng đó là sự khác biệt then chốt, đóng vai trò quyết định trong cuộc sống chúng ta.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG MAY MẮN NHẤT THẾ GIỚI “

Bạn có biết người nào bất hạnh hơn tôi không?” là câu đầu tiên Hsieh Kun-Shan hỏi khán giả khi anh được mời đến nói chuyện tại các buổi hội thảo và tọa đàm. Anh đứng trước tất cả mọi người, anh không có tay, bàn chân trái của anh bị biến dạng, chân phải bị tháo khớp đến gối và anh bị mù một mắt. Hầu hết mọi người đều cố gắng nghĩ đến một ai đó mà họ biết hoặc từng nghe đến, bất kỳ ai có hoàn cảnh không may như Hsieh. Và rồi anh lại khiến khán giả lúng túng bởi câu hỏi thứ hai: “Nhưng, bạn có biết ai may mắn như tôi không?”

Điều gì có thể khiến một người như Hsieh cảm thấy mình là người may mắn nhất thế giới? Tại sao một người đàn ông có cuộc sống dường như bị nguyền rủa này lại cảm thấy mình thật may mắn? Đối với nhiều người, điều này có vẻ khó hiểu. Đó chính là lý do những gì Hsieh nói lại quan trọng đến thế.

Câu chuyện của Hsieh trở về hơn ba mươi năm trước khi anh còn là một thiếu niên làm việc trong một phân xưởng ở Đài Loan. Điều cuối cùng anh còn nhớ trong ngày hôm đó là anh đi chân đất vào xưởng, khuân máy thanh thép. “Tôi đang phụ việc cho một xưởng may”, anh giải thích. “Rồi đột nhiên những thanh thép tôi đang vác bị hút vào dây điện cao thế. Tệ hơn nữa, không hiểu vì sao hôm đó tôi không mang giày và thế là toàn bộ cơ thể tôi biến thành vật dẫn điện.”

Hsieh bị giật bất tỉnh ngay lập tức. Hai ngày sau anh tỉnh dậy và cảm thấy đau không chịu nổi do vết bỏng từ hai tay lẫn hai chân anh. Không còn cách nào khác, các bác sĩ phải cắt bỏ một số phần cơ thể để cứu sống anh. Anh mất gần hết cánh tay phải, toàn bộ cánh tay trái, và từ đầu gối chân phải trở xuống. Mắt phải của anh bị hư nghiêm trọng, còn bàn chân trái thì hoàn toàn biến dạng sau vụ tai nạn.

Với những chấn thương như thế, thật đáng ngạc nhiên khi ngày hôm nay, Hsieh cho rằng mình là một trong những người may mắn nhất thế giới. Càng đáng ngạc nhiên hơn nữa khi bạn biết rằng vài năm sau đó, anh mất luôn thị lực mắt phải khi chị gái anh vô tình đập đồ bám kim vào mắt anh khi chị đang đóng sách cho anh! Nhưng, cho dù tàn tật như thế, Hsieh vẫn coi mình là người rất may mắn, không chỉ vì anh thoát chết trong vụ tai nạn có thể dễ dàng tước đi mạng sống của anh, mà còn vì cuộc sống anh đã tạo dựng và con người mới mà anh trở thành sau những tai ương. Sau tai nạn, trong suốt bảy năm, Hsieh sống thu mình trong căn hộ nhỏ mà gia đình anh thuê ở. Anh chỉ ra ngoài một lúc để đi cắt tóc. “Không phải tôi tự đày đọa mình”, Hsieh nói, “Lúc đó tôi đang nghĩ cách tự chăm sóc bản thân để bắt đầu cuộc sống mới. Cơ thể tôi bị hạn chế, nhưng tâm trí tôi thì vẫn tự do.”

Hsieh bắt đầu kiên nhẫn học cách sống chung với cơ thể tàn tật của mình. Anh sáng chế ra một thiết bị đặc biệt có thể buộc vào phần còn lại của tay phải, một chiếc muỗng được gắn vào thiết bị đó để Hsieh tự xúc ăn. Anh cũng thiết kế một cái móc dài gắn vào thiết bị giúp anh mở dây kéo quần. Anh thậm chí còn học cách tự tắm cho mình.

Chính trong căn phòng nhỏ của mình, Hsieh quyết định vẽ tranh để kiếm tiền sinh sống. Anh thích vẽ nguệch ngoạc lên sách khi còn ngồi trên ghế nhà trường và vì thế anh bắt đầu luyện cách ngậm bút chì để vẽ. Anh khám phá ra việc vẽ tranh như một phương thuốc giúp anh tập trung tâm trí vào việc sáng tạo. Hsieh nói “Tôi tìm thấy sự bình yên và mãn nguyện trong hội họa”. Anh thậm chí biết cách ngậm một con dao nhỏ để chuốt viết chì.

Bước sang tuổi đôi mươi, Hsieh chấm dứt việc tự cô lập bản thân và bắt đầu kết hợp với hai người bạn tự học vẽ để lập ra phòng bán tranh sơn dầu có tên “Chậm Một Bước”. Anh nhất định dọn ra khỏi nhà mẹ mình và gắn thêm chân giả để có thể đi lại xung quanh.

Thế nhưng, một sự thay đổi to lớn đã đến với cuộc đời của Hsieh vào ngày anh gặp họa sĩ vẽ tranh sơn dầu nổi tiếng Wu Ah-Sun tại cuộc triển lãm nghệ thuật của ông ở Đài Bắc. Ông Wu bị ấn tượng bởi sự say mê học hỏi của Hsieh và đồng ý để Hsieh đi học lớp vẽ do ông dạy ở trường đại học miễn phí. Ông Wu cũng giúp giới thiệu các tác phẩm của Hsieh đi khắp nơi. Và cũng trong lớp học của ông, Hsieh đã gặp người vợ tương lai của mình, người con gái đẹp tên Lin đang làm việc tại một hãng điện tử địa phương.

Hsieh đã kết thúc sáu năm học cấp ba ở tuổi ba mươi để bù đắp cho những năm tháng học tập dở dang do vụ tai nạn. Anh không ngừng phấn đấu để giành được nhiều giải thưởng nghệ thuật và đến năm 1987, anh trở thành hội viên của Hội các họa sĩ vẽ bằng miệng và chân của thế giới có trụ sở tại Liechtenstein, trợ cấp cho hàng trăm họa sĩ ở hơn 60 quốc gia. Ngày nay, tranh sơn dầu kích cỡ trung bình của Hsieh được bán với giá hơn 5.000 đô Mỹ một bức.

Năm 2002, Hsieh viết tự truyện và một năm sau nó được chuyển thể thành truyện dành cho thiếu nhi. Sách của anh còn được làm thành phim truyền hình dài 30 tập, trong đó anh đóng vai chính mình ở tuổi trưởng thành. Câu chuyện về cuộc đời của Hsieh giờ đã trở thành một phần của văn học dân gian Đài Loan và được đưa vào sách giáo khoa tiểu học và trung học. Anh đã đạt được một điều mà rất ít người trong lịch sử từng hy vọng đạt được, không chỉ ở Đài Loan mà còn ở bất cứ nơi đâu trên thế giới: anh trở thành một huyền thoại ngay cả khi anh còn sống.

Ngày nay, Hsieh không chỉ là một họa sĩ, anh còn là một diễn giả và một giảng viên. Được biết, anh hiện sống trong một căn hộ tầng hai ở Bản Kiều, Đài Loan, cùng với vợ Lin Yeh-chen và hai cô con gái đang ở tuổi thiếu niên. Trong một cuộc phỏng vấn, khi cô Lin mô tả anh là “người đàn ông luôn tỏa ra tình yêu, sự ấm áp và ánh sáng cùng sự lạc quan cao độ”, cô đã bật mí một trong những bí quyết thành công của chồng mình.

TAY ĐUA XE ĐẠP VĨ ĐẠI NHẤT GIẢI TOUR DE FRANCE

Trong làng đua xe đạp chuyên nghiệp thế giới, có một người nổi bật hơn tất thảy các tay đua khác. Tại thời điểm quyển sách này ra đời, anh đã liên tục bảy lần phá kỷ lục giải Tour de France, một giải đua xe đạp được công nhận là có uy tín và khốc liệt nhất trên thế giới, từ năm 1999 đến 2005. Trong số nhiều giải thưởng danh dự anh nhận được có bốn giải Vận động viên nam của năm do báo Associated Press trao tặng. Anh cũng giành được giải ESPY trong bốn năm liên tiếp dành cho Vận động viên nam xuất sắc nhất do ESPN trao tặng. Năm 2003, anh được đặt danh hiệu là Nhân vật thể thao ngoại quốc của năm do BBC trao tặng. Tên anh là Lance Armstrong.

Đúng vậy, Lance Armstrong đã trở thành biểu tượng của làng đua xe đạp chuyên nghiệp thế giới. Sự thành công của anh là không thể chối cãi. Nhưng có một chi tiết về câu chuyện đời anh, thậm chí còn đáng chú ý hơn. Chỉ vài năm trước khi anh giành giải vô địch Tour de France đầu tiên, Armstrong bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư.

Đó là vào ngày 2 tháng 10 năm 1996, Armstrong lần đầu tiên bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn. Đó là căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở đàn ông tuổi từ 15 đến 35. Theo ghi nhận của Bộ Y Tế Anh, khoảng 46,2% người bị mắc bệnh ung thư ở một thời điểm nào đó trong cuộc sống. Nếu bạn là nam giới và bạn có dấu hiệu bị ung thư thì rất có thể đó là chứng ung thư tinh hoàn. Với điều kiện khối u chưa di căn (lan ra các cơ quan khác hay các mô xung quanh) thì bệnh thường được chẩn đoán tốt. Hơn 90% bệnh nhân hồi phục. Tuy nhiên, khi có kết quả sinh thiết của Armstrong, các bác sĩ phát hiện khối u đã di căn. Ung thư đã tấn công vào não và phổi của anh. Tiên lượng bệnh của anh không tốt chút nào.

Có nhiều yếu tố hỗ trợ Armstrong trong cuộc chiến chống lại ung thư của mình. Anh vẫn còn khá trẻ, một vận động viên khỏe mạnh và đang ở đỉnh cao phong độ, chính điều này đã giúp anh vượt qua những lần hóa trị dữ dội và những cuộc giải phẫu lớn. Anh còn nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè. Nhưng, có một yếu tố quyết định đã giúp anh chiến thắng, thậm chí khi phải đối diện với những khoảnh khắc đáng sợ. Và cũng chính yếu tố đó đã giúp anh tiếp tục giành chiến thắng ở giải Tour de France, cuộc đua đường trường khắt khe nhất thế giới, không chỉ một lần mà bảy lần liên tiếp: Lance Armstrong có tinh thần của một người chiến thắng. Anh tập trung, chuyên tâm và luôn tin rằng mình sẽ đạt được bất cứ điều gì một khi anh đã xác định mục tiêu – đó là tính cách then chốt của người lạc quan.

SỨC KHỎE  SỰ LẠC QUAN

Khi một người bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư, cho dù loại nào đi chăng nữa, có một điều họ cần hơn bất kỳ thứ gì khác, đó là sự lạc quan. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy những bệnh nhân trông đợi kết quả điều trị tích cực thường có nhiều khả năng đạt được kết quả tích cực. Các nhà khoa học đã theo dõi nhiều bệnh nhân chữa trị một số loại bệnh ung thư khác nhau và ngay cả những bệnh nhân cấy ghép tủy xương. Kết quả gần như giống nhau trong tất cả trường hợp. Những người lạc quan trong số các bệnh nhân ít gặp biến chứng và có tỉ lệ sống sót cao hơn nhiều.

Trong một nghiên cứu về những bệnh nhân ung thư trẻ tuổi, người ta phát hiện rằng những người lạc quan có tỉ lệ sống sót cao hơn sau 8 tháng điều trị so với những người bi quan. Một nghiên cứu về những bệnh nhân bị ung thư não và ung thư cổ cũng cho ra kết luận tương tự. Kết quả cho thấy, sau một năm, những người bi quan trong số các bệnh nhân thường có ít khả năng sống sót hơn những người khác. Những người lạc quan  trong số các phụ nữ bị chẩn đoán ung thư vú cũng ít thấy đau buồn hơn trước cuộc phẫu thuật và theo ghi nhận, họ đang tận hưởng chất lượng cuộc sống tốt hơn so với những người bi quan sau mười hai tháng điều trị.

Nghiên cứu về các loại bệnh khác cũng cho ra kết luận tương tự. Các bệnh nhân trải qua phẫu thuật động mạch vành thường ít bị biến chứng hay ít phải tái nhập viện trong vòng sáu tháng sau giải phẫu nếu họ sống lạc quan, và người lạc quan sẽ tận hưởng chất lượng cuộc sống cao hơn, thậm chí lên đến năm năm sau cuộc giải phẫu.

Có một điều gì đó đặc biệt giúp những người lạc quan vượt qua bệnh tật nhanh chóng hơn và trọn vẹn hơn những người khác. Năm 1985 các nhà khoa học ở Hà Lan bắt đầu một cuộc nghiên cứu 15 năm tìm hiểu xem tính lạc quan có ảnh hưởng hay không và ảnh hưởng như thế nào đến bệnh tim mạch ở những người trung niên. Số người khảo sát được lựa chọn ngẫu nhiên và phải được kiểm tra kỹ lưỡng để loại bỏ các nguy cơ thông thường về bệnh tim mạch bao gồm đột quỵ, tiểu đường, đau thắt ngực, suy tim, và bất kỳ bệnh sử nào khác trong gia đình. Các nhà khoa học đúc kết lại và đưa tổng cộng 545 người vào kiểm tra tính lạc quan và bi quan bằng một bảng phỏng vấn ngắn với chỉ 4 câu hỏi. Trong 15 năm tiếp theo, các nhà khoa học theo dõi bệnh trạng của họ và tìm hiểu xem có bất kỳ thay đổi nào trong khuynh hướng lạc quan của các bệnh nhân trên, định kỳ năm năm một lần.

Tháng 2 năm 2006 các nhà khoa học đã công bố phát hiện của mình. Kết quả cho thấy: có một “liên kết bền vững và nhất quán giữa khuynh hướng lạc quan và tỉ lệ giảm 50% nguy cơ tử vong do bệnh tim”. Trong  khi đó, sự tuyệt vọng – được định nghĩa là “cảm giác bất lực và tiêu cực về tương lai cũng như những mục tiêu cá nhân” và rất giống với sự bi quan – dẫn đến nguy cơ tăng cao về bệnh tim mạch, bao gồm cả cao huyết áp và vỡ thành động mạch. Sự lạc quan đã chứng tỏ có thể làm giảm nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch lên đến 50%! Trong cuộc sống, sợi dây kết nối giữa tính lạc quan và rủi ro về bệnh tim mạch mà các nhà khoa học phát hiện ra là cực kỳ quan trọng, đến nỗi các nhà nghiên cứu đã khuyên rằng mức độ lạc quan và bi quan của một người cần được thêm vào danh sách những yếu tố rủi ro độc lập của bệnh tim mạch ở người lớn tuổi.

Những nghiên cứu khác cho thấy những người lạc quan thường có tuổi thọ cao hơn người bi quan từ bảy năm rưỡi đến mười ba năm, và có nhiều khả năng hồi phục sau những cơn bạo bệnh hơn những người bi quan. Đây có thể là do người bi quan thường có chỉ số huyết áp cao hơn người lạc quan, và người lạc quan có hệ thống miễn dịch tốt hơn người bi quan. Theo Tiến sĩ Becca R. Levy, Phó giáo sư về Dịch tễ học và Tâm lý học ở Viện Sức khỏe Cộng đồng thuộc Đại học Yale, thì người lạc quan sống lâu hơn và dễ dàng có được “sức khỏe tốt hơn” trong suốt cuộc đời của họ.

Tiến sĩ Michael F Scheier, Giáo sư và Trưởng khoa Tâm lý học Đại học Carnegie-Mellon, người đã tham gia nghiên cứu về hiệu quả của sự lạc quan đối với những bệnh nhân trải qua phẫu thuật thay động mạch nhân tạo và bệnh nhân ung thư. Ông kết luận rằng “người lạc quan có xu hướng thích nghi với tình trạng và các nguy cơ về sức khỏe tốt hơn người bi quan.”

Nhiều nhà khoa học nghi vấn rằng lý do những người lạc quan vượt qua được bệnh hiểm nghèo tốt hơn những người bi quan vì sự trông đợi của con người mang đến hệ quả về sinh lý và sinh hóa. Các nghiên cứu mới cũng cho thấy sự trông đợi của chúng ta có tác động cực kỳ mạnh mẽ đến những thay đổi về thể chất và sinh lý trong cơ thể mình. Các nhà khoa học đã đo mức độ thay đổi ở não bộ theo suy nghĩ, cụ thể là những gì chúng ta trông đợi. Từ việc tiết ra các chất giảm đau tự nhiên đến sự biến đổi của những xung động thần kinh trong não bộ, họ đã đưa ra một kết luận gây sửng sốt.

Khám phá về cách chúng ta trông đợi có thể cải thiện được tình trạng sức khỏe và cả hạnh phúc của chúng ta không có gì mới lạ. Từ năm 1811, Từ điển Y khoa Hooper đã đề cập đến điều mà ngày nay chúng ta biết đến như “Hiệu ứng Placebo”, đó là “tên gọi dành cho một loại thuốc không có tác dụng dược lý, chủ yếu được dùng để làm yên lòng bệnh nhân”. Nhưng, điều mà có lẽ Hooper chưa hiểu đó là tâm lý bệnh nhân mới là then chốt, thậm chí quan trọng hơn bất kỳ phương pháp chữa trị nào.

Ngày nay hiệu ứng placebo được công nhận là một hiện tượng y khoa và được xem như tiêu chuẩn kiểm nghiệm tất cả các loại thuốc. Tác dụng của hiệu ứng này là nếu bạn đưa cho bệnh nhân một chai thuốc viên bao đường nhưng thông báo đây là loại thuốc mới nhất đã được chứng minh có thể chữa khỏi bệnh cho họ, thì trên 1/3 số bệnh nhân (dao động từ 30% – 60%) thật sự cảm nhận được những dấu hiệu tiến triển tốt.

Cho đến nay, người ta vẫn cho rằng lợi ích của placebo hoàn toàn mang tính tâm lý, hoặc nằm trong trí tưởng tượng của bệnh nhân. Tuy nhiên, các nhà khoa học bắt đầu đối chiếu kết quả cho thấy ý nghĩ của chúng ta có thể kích hoạt các đường dẫn thần kinh chữa bệnh giống hệt như tác dụng của thuốc. Trong một nghiên cứu ở trường Đại học Michigan, các nhà khoa học chích nước muối vào xương hàm của một nhóm nam giới khỏe mạnh nhằm tạo cảm giác đau đớn, trong lúc đó họ được chụp Positron cắt lớp (PET) để đo mức độ ảnh hưởng lên não bộ. Sau đó các nhà khoa học nói rằng họ vừa được chích một loại thuốc giảm đau, dù trên thực tế là placebo. Trong quá trình đó não bộ của bệnh nhân được chụp cắt lớp liên tục, kết quả cho thấy: ngay khi họ biết mình được chích “thuốc thật”, lập tức não họ tiết ra chất endorphin – một hóa chất có tác dụng giảm đau tự nhiên bằng cách ngăn chặn sự truyền tín hiệu đau giữa các tế bào thần kinh, và kết quả là các bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn.

Một nghiên cứu khác do Tiến sĩ Fabrizio Benedetti của Trường Y khoa Torino thuộc Đại học Ý tiến hành khi quan sát bệnh nhân bị hội chứng Liệt run (Parkinson), một hội chứng khiến hệ thống thần kinh trung ương bị thoái hóa gây suy giảm chức năng vận động, nói và các chức năng khác.

Bệnh nhân được cấy một loại máy tạo nhịp vào não bộ, giúp giảm triệu chứng run. Tuy vậy, các bệnh nhân không hề biết rằng không phải tất cả các mô cấy đều được kích hoạt. Nghiên cứu trên cho thấy rằng nếu ta mang lại cho bệnh nhân một sự mong đợi tốt, thì dù không có sự can thiệp của y học, bệnh trạng của họ vẫn có xu hướng cải thiện đáng kể.

Khi các bác sĩ tiến hành phân tích hiệu quả của việc điều trị, phát hiện của họ thật đáng kinh ngạc. Các bệnh nhân thể hiện sự biến chuyển rõ rệt, tất cả đều cho biết mình cử động tốt hơn nhiều sau đợt điều trị. Kết quả chụp cắt lớp não cũng khẳng định sự tiến triển; xung động của các tế bào thần kinh kiểm soát vận động trong não bộ cũng trở nên bình ổn hơn, mức độ hoạt động giảm 40% dẫn đến giảm hiện tượng co cứng cơ bắp của người bệnh. Tuy nhiên, khi các bác sĩ phân tích dữ liệu, họ khám phá rằng những bệnh nhân có cải thiện đáng kể nhất lại là những người có mô cấy chưa được kích hoạt. Kết luận đó thật hấp dẫn, chính khát khao được lành bệnh mạnh mẽ đến mức nó dẫn đến những thay đổi sinh hóa trong não bộ, đánh bại cả công nghệ y học mới nhất, một quy trình giải phẫu tốn hàng ngàn đô.

Một trong những minh chứng tuyệt vời nhất về sức mạnh của placebo đã được ông Norman Cousins, tác giả của quyển sách bán chạy nhất Anatomy of an Illness (Phân Tích về Một Chứng Bệnh), mô tả trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh năm 1983. Khi ấy, Cousins đang làm việc tại Viện nghiên cứu Não bộ ở Đại học California, Los Angeles. Hơn một trăm sinh viên y khoa đã tham gia vào cuộc thử nghiệm hai loại thuốc. Một loại là thuốc siêu kích thích và loại kia là thuốc siêu an thần. Các sinh viên được cho biết về tác dụng của thuốc. Họ được bảo rằng viên thuốc màu đỏ, siêu kích thích, sẽ khiến họ cảm thấy tỉnh táo hơn nhưng cũng có thể làm cho họ buồn nôn và chóng mặt. Viên thuốc màu xanh, siêu thư giãn, sẽ khiến họ cảm thấy thoải mái hơn nhưng có thể gây buồn ngủ và giảm khả năng tập trung của họ.

Cuộc thử nghiệm này thú vị ở chỗ là không hề có placebo. Cả hai loại thuốc đều là thuốc thật; các nhà nghiên cứu chỉ tráo hai loại thuốc với nhau để viên màu đỏ là thuốc an thần còn viên màu xanh lại là thuốc kích thích.

Các nhà nghiên cứu sau đó theo dõi phản ứng của các sinh viên và phát hiện ra 60 phần trăm sinh viên phản ứng giống như những gì họ trông đợi mặc dù họ được cho uống loại thuốc đáng lẽ phải tạo ra các triệu chứng trái ngược hoàn toàn. Đó không chi là một phản ứng tâm lý, các sinh viên cũng thể hiện những thay đổi sinh hóa và sinh lý đáng kể. Kết quả, theo Cousins, thì “không thể tránh khỏi” và chính những gì ta trông đợi mạnh hơn thuốc men rất nhiều, ít nhất là trong trường hợp này.

Ngày nay, ý nghĩ và sự kỳ vọng được công nhận là có thể tạo ra những thay đổi sinh hóa và sinh lý mạnh mẽ trên cơ thể chúng ta. Đó không phải là việc não bộ đánh lừa cơ thể tin vào trạng thái khỏe mạnh hoặc không đau đớn. Cái chính là ý nghĩ và sự kỳ vọng sẽ kích hoạt các cơ chế tự chữa lành trong cơ thể và cơ thể thật sự lành bệnh. Theo các nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard, điều  đáng ngạc nhiên là tác dụng của placebo có hiệu quả trên 60% đến 90% các chứng bệnh, bao gồm chứng đau thắt ngực, viêm phế quản, bệnh mụn rộp, và loét tá tràng.

Đây là điều tôi tin rằng các bác sĩ cần lưu tâm khi điều trị cho bệnh nhân. Có quá nhiều câu chuyện về thái độ của bác sĩ khiến bệnh nhân hoảng sợ. Khi điều trị cho bệnh nhân mắc những chứng bệnh nguy hiểm đến tính mạng, một số bác sĩ không cần biết những gì mình nói có ảnh hưởng tới người bệnh như thế nào. Một lời chẩn đoán tiêu cực, vô vọng có thể gây chết người và hủy hoại sức khoẻ không khác gì thứ hóa chất độc hại. Một lời chẩn đoán tiêu cực có thể trở thành lời tiên đoán hiệu nghiệm. Nhiều người vì thế mà mất mạng không đáng, quá sớm, hoặc nếu không thì chất lượng cuộc sống của họ cũng bị hủy hoại. Những con số thống kê u ám chỉ có hại cho bệnh nhân mà thôi. Dù placebo không thể nào thay thế các liệu pháp điều trị, nhưng chúng ta biết chắc rằng sự lạc quan đầy khích lệ – cùng những suy nghĩ tích cực và những lý do để hy vọng – có khả năng mang lại kết quả tốt nhất cho tất cả bệnh nhân.

Bằng chứng trên đã xóa tan mọi nghi ngờ; cách ta nhìn thế giới, và cụ thể là niềm tin vào bản thân và tương lai sẽ ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và quyết định mức độ thành công trước những thử thách về sức khỏe. Người lạc quan không những khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn người bi quan mà khả năng chịu đựng cũng tốt hơn, hồi phục nhanh chóng hơn. Vì thế, nếu bạn hay người thân của bạn bị bệnh, dù bệnh trạng có nghiêm trọng như thế nào thì việc giữ một cái nhìn tích cực, lạc quan cũng quan trọng không kém gì thuốc men. Như Norman Cousins đã viết, “Không phải lúc nào cũng cần đến thuốc. Nhưng niềm tin vào sự hồi phục thì không thể thiếu.”

NHÂN TỐ THỨ BA TRONG TIỀM NĂNG CON NGƯỜI

Trước đây, các nhà tâm lý học tin rằng tiềm năng con người được thúc đẩy bởi hai đặc tính cá nhân – khả năng và động lực. Tuy nhiên, trong vòng 30 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra nhân tố thứ ba, một đặc tính sẽ dự đoán tiềm năng của một người trong hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhân tố thứ ba đó chính là sự lạc quan. Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng thành công của một người cũng bị mức độ lạc quan của họ chi phối không kém gì các yếu tố khác. Chính việc người ta trông đợi thất bại hay thành công, phần nhiều, trở thành lời tiên đoán hiệu nghiệm.

Quả thật, lợi ích của sự lạc quan đã được khẳng định bằng hàng trăm cuộc nghiên cứu tâm lý, được tiến hành trong suốt ba mươi năm qua trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Một trong những nhà tâm lý học hàng đầu nghiên cứu về sự lạc quan là Tiến sĩ Martin Seligman, Giáo sư Tâm lý ở trường Đại học Pennsylvania, và cũng là cựu chủ tịch Hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA).

Theo nhiều nghiên cứu cho biết, mức độ lạc quan của con người được đo lường dựa vào Bảng câu hỏi xác  định tính cách Seligman (SASQ). Mất khoảng hai mươi phút để hoàn tất bảng câu hỏi chi tiết, mô tả nhiều tình huống giả định và người tham gia được yêu cầu đánh giá mỗi câu hỏi theo thang điểm từ 1 đến 7. Bảng câu hỏi được thiết kế để xác định điều mà Tiến sĩ Seligman gọi là “giải thích tính cách”, về bản chát là cách người ta lý giải cho những nguyên nhân khiến họ thành công và thất bại trong cuộc sống. Nguyên nhân của việc này, theo Tiến sĩ Seligman, là do người lạc quan nhìn nhận thành công và thất bại hoàn toàn khác với người bi quan. Khi người lạc quan gặp thất bại, họ lấy đó làm bài học kinh nghiệm và chỉ là một bước lùi tạm thời. Hoàn toàn ngược lại, khi người bi quan gặp thất bại, họ cho là mình thiếu khả năng và sẽ mãi mãi như vậy; dù họ có cố gắng lần nữa, họ vẫn “biết trước” rằng mình cũng thất bại, vậy cố gắng để làm gì?

Một trong những nghiên cứu nổi bật nhất được thực hiện với những người bán bảo hiểm nhân thọ. Khi làm việc với công ty bảo hiểm nhân thọ Metropolitan, Tiến sĩ Seligman và nhóm của ông đã khảo sát 15.000 người nộp đơn xin vào vị trí bán bảo hiểm nhân thọ, một nghề rất khó, thường bị khách từ chối và cũng là nghề có tỉ lệ bỏ việc cao.

Trong hai năm, các nhà nghiên cứu theo dõi sự thành công của 1.000 người đã vượt qua các kỳ thi tuyển  đầu vào của công ty bảo hiểm, cùng với 129 người trước đó đã trượt kỳ thi tuyển (lẽ ra không được thuê vào làm) nhưng vì họ có số điểm rất cao trong bài kiểm tra sự lạc quan SASQ nên họ được nhận vào và doanh số bán của họ được ghi nhận trong suốt quá trình khảo sát.

Khi đối chiếu kết quả, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, như dự đoán, trong nhóm nhân viên bán bảo hiểm đã vượt qua kỳ thi tuyển, những  người lạc quan có thành tích vượt trội hơn những người bi quan đến 31%. Tuy vậy, khi phân tích nhóm 129 người đặc biệt đã trượt kỳ thi tuyển, họ bất ngờ khi phát hiện ra nhóm người lạc quan cao độ này vượt xa tất cả mọi người! Họ đánh bại nhóm người bi quan trước đó đã đậu kỳ thi tuyển với một con số không ngờ, hơn 57%. Các nghiên cứu tương tự trong các ngành nghề khác, gồm có viễn thông, ngân hàng, địa ốc, văn phòng  phẩm, xe hơi, v.v… cũng đi đến cùng một kết luận. Người lạc quan có xu hướng thành công hơn nhiều so với người bi quan trong lĩnh vực bán hàng. Trung bình những người lạc quan bán hàng tốt hơn những người bi quan khoảng 20% đến 40% và những người cực kỳ lạc quan vượt xa những người cực kỳ bi quan đến 88%!

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện rằng người cực kỳ bi quan có xu hướng bỏ việc gấp ba lần so với người cực kỳ lạc quan. Thông điệp thật rõ ràng: nếu một công ty muốn có được thành tích tốt nhất từ đội ngũ bán hàng của họ thì công ty đó cần bảo đảm những người họ thuê không chỉ tài năng mà còn phải có tinh thần lạc quan cao.

Thông qua SASQ, sự lạc quan có liên quan mật thiết đến nguồn động lực mạnh mẽ hơn và mức độ thành công cao hơn, dù là ở trường, nơi làm việc hay ngay cả trong thể thao. Chúng ta đã thấy trong kinh doanh, mức độ lạc quan của những người bán hàng rõ ràng là một dấu hiệu dự đoán chính xác cho mức độ thành công trong việc bán sản phẩm của họ. Trong thể thao, sự lạc quan cũng dự đoán chính xác khả năng thi đấu của các vận động viên bơi lội cấp quốc gia. Năm 1988, Tiến sĩ Seligman làm việc với đội tuyển bơi lội Berkeley của Đại học California và phát hiện rằng các vận động viên lạc quan thi đấu vượt xa các vận động viên bi quan và phản ứng tốt hơn trong hoàn cảnh bất lợi (được định nghĩa là cách họ phản ứng trong một cuộc đua kém phong độ). Seligman trích câu chuyện của Matt Biondi, người có điểm số SASQ thể hiện sự lạc quan cao độ. Trong Thế vận hội Olympics năm 1998 tại Seoul, người ta kỳ vọng cao về khả năng Biondi sẽ giành được bảy huy chương vàng, bằng với kỷ lục của Mark Spitz trong Olympics 1972. Tuy nhiên, trong hai nội dung thi đấu đầu tiên, Biondi đã sơ suất phạm phải một hai lỗi nghiêm trọng và chỉ giành được một huy chương đồng và một huy chương bạc. Khởi đầu đáng thất vọng này khiến dư luận xôn xao không biết anh sẽ thi đấu ra sao trong năm vòng còn lại. Tiến sĩ Seligman tin rằng anh sẽ lội ngược dòng, dựa trên kết quả ghi nhận tính lạc quan SASQ của anh. Và đúng như thế, Biondi đã giành được huy chương vàng cho cả năm nội dung thi đấu.

Trong giáo dục, Tiến sĩ Seligman nghiên cứu các học sinh từ lớp ba đến lớp bảy và phát hiện rằng các em tỏ ra lạc quan có thành tích học tập tốt hơn nhiều so với các em bi quan. Riêng các học sinh bước vào lớp ba với chỉ số lạc quan SASQ thấp có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn và kết quả học tập giảm đáng kể. Ngược lại, ông cũng phát hiện chỉ số lạc quan SASQ cao có liên hệ với giấc ngủ ngon và ít căng thẳng hơn. Chỉ số lạc quan có thể dự đoán một cách chính xác học sinh nào sẽ đạt điểm cao nhất và học sinh nào sau cùng sẽ bỏ học.

Khi bạn bắt đầu xem trọng vai trò của tính lạc quan trong cuộc sống chúng ta thì sẽ không có gì ngạc nhiên khi bạn biết rằng các công ty và tổ chức hàng đầu trên khắp thế giới sử dụng chỉ số SASQ để sàng lọc các  ứng viên, đặc biệt là những công việc thường phải chịu đựng thất bại và thử thách không ngừng. Đó là vì giờ đây mọi người đã công nhận một điều: người lạc quan là người nắm giữ chìa khóa mở ra mặt phải, hơn bất kỳ người nào khác.

CHÌA KHÓA MỞ RA MẶT PHẢI

Sự lạc quan  mối liên hệ to lớn với thành công  hạnh phúc của con người hơn bất cứ điều  khác. ” – Brian Tracy

 Ít ai còn nghi ngờ rằng sự lạc quan là một tính cách quan trọng, thậm chí có người còn tin đó là tính cách quan trọng nhất ở những người tìm ra mặt phải. Một trong những lý do về việc này, theo Giáo sư Charles Carver, trưởng khoa Tâm lý học của trường Đại học Miami (người đã có nhiều đóng góp cho những nghiên cứu nền tảng về tính lạc quan), thì người lạc quan “phản ứng với những khó khăn và nghịch cảnh một cách mềm dẻo hơn những người tiêu cực”. “Người lạc quan”, ông nói, “có tinh thần chiến đấu cao hơn”, họ đưa ra những hướng giải quyết và phản ứng khác biệt khi phải đương đầu với những tình huống căng thẳng.

Tất cả những điều này càng khẳng định mặt phải không thể là một điều gì đó ngẫu nhiên, hay xảy ra bất ngờ. Đó là một kết quả có thể dự đoán trước dựa trên thái độ và niềm tin của con người. Điều này đặt ra những câu hỏi sâu xa hơn về tính lạc quan và ý nghĩa của sự lạc quan. Điều gì tạo nên tính lạc quan? Nó bắt nguồn từ đâu? Và quan trọng nhất, nếu cho rằng cuộc sống của người lạc quan tốt đẹp hơn người bi quan về nhiều mặt, thì ta phải tự hỏi liệu có cách nào để trở nên lạc quan hơn, và nhờ đó mà ta có nhiều cơ hội tìm ra mặt phải trong cuộc sống của mình? Trong phần hai của quyển sách này, chúng ta sẽ xem xét những câu hỏi đó và tìm hiểu những phương pháp mà người lạc quan dùng để tìm ra mặt phải khi đối mặt với khó khăn và thất bại. 

Phần 1 – Chương 6
Đánh giá bài viết