Phần 2 – Chương 12

DI SẢN CỦA EDISON: TRIẾT LÝ SỐNG

“Nếu chúng ta làm tất cả những việc mà ta có khả năng thực hiện, chúng ta sẽ thật sự làm kinh ngạc cả chính mình. ” – Thomas A. Edison

NĂM 1997 TẠP CHÍ LIFE xuất bản hai kỳ báo kỷ niệm liên tiếp liệt kê danh sách một trăm người quan trọng nhất của thiên niên kỷ. Đứng đầu danh sách là một người đàn ông sinh năm 1847 ở tiểu bang Ohio, nước Mỹ. Khi còn bé, cậu chỉ được chính thức đến trường học trong ba tháng. Thầy giáo của cậu, mục sư Engle, cho rằng cậu sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì vì đầu óc cậu “trống rỗng” và cậu lại hay mơ mộng. Vì thế, mẹ cậu đã đem con về và tự mình dạy con học tại nhà. Từ nhỏ, khả năng nghe của cậu đã bị hạn chế mà về sau được phát hiện là di chứng của bệnh ban đỏ và bệnh viêm tai giữa kéo dài. Cậu bé càng lớn bệnh càng nặng, cho đến khi trưởng thành và sau một tai nạn trên xe lửa thì cậu bị điếc hoàn toàn. Tuy vậy, với tất cả những gian nan đó, cậu bé lớn lên và trở thành một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất của mọi thời đại, và trong tất cả những người đã sống trên trái đất này suốt một ngàn năm qua, thì chính cuộc đời ông được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đến tương lai của nhân loại. Người đàn ông đó là Thomas Alva Edison.

Chỉ riêng ở Mỹ, Thomas Edison có 1.093 văn bằng sáng chế được đăng ký dưới tên ông. Ông có công phát minh ra vô số thiết bị mang tính cách mạng bao gồm máy hát đĩa, máy quay phim, pin lưu trữ và dĩ nhiên là bóng đèn điện, phát minh nổi tiếng nhất và cũng là quan trọng nhất của ông. Edison đóng vai trò then chốt trong việc đưa cuộc cách mạng công nghiệp từ thời kỳ máy hơi nước lên kỷ nguyên điện lực. Có lẽ hơn bất kỳ người nào khác trong lịch sử gần đây, Thomas Edison đã làm thay đổi cả thế giới.

Mặc dù Edison được biết đến nhiều nhất với phát minh bóng đèn điện nhưng các nhà sử học lại xem phát minh đáng ghi nhận nhất của ông là máy ghi âm (hay còn được gọi là máy hát đĩa). Edison đã thiết kế và tạo ra một thiết bị đầu tiên trên thế giới có thể ghi âm rồi phát lại. Ngày nay thật khó tưởng tượng một thế giới mà không có máy ghi âm, và ngược dòng thời gian về năm 1877 khi Edison phát minh ra nó, ông cũng không thể tưởng tượng được phát minh của mình sẽ tác động lên mọi lĩnh vực trong cuộc sống đến mức nào, từ việc kinh doanh của chúng ta – hãy tưởng tượng một thế giới không có hộp thư thoại? – đến ngành giải trí và thư giãn – liệu nhóm The Beatles hay Rolling Stones sẽ ở đâu nếu không có những chiếc đĩa nhựa vinyl? Và những ngôi sao nhạc Pop ngày nay sẽ ra sao nếu không có dĩa CD hay nhạc nén MP3?

Từ lần chạy thử đầu tiên, chiếc máy ghi âm của Edison đã không gặp trục trặc gì và điều đó làm kinh ngạc cả người phát minh ra nó, có lẽ hơn bất kỳ ai khác, bởi Edison thừa biết hầu hết các phát minh cần phải được cải tiến rất nhiều lần mới có thể sử dụng được. Yếu tố khiến cho thiết bị này trở nên nổi bật không phải vì sự đột phá công nghệ hay ý nghĩa mà nó sẽ đem lại cho thế giới, mà do thực tế rằng chiếc máy thu và phát âm thanh đầu tiên trên thế giới lại được phát minh bởi một người đàn ông bị điếc hoàn toàn!

Edison sáng tạo ra máy ghi âm bằng cách dùng miệng cắn vào nơi phát ra âm thanh và “lắng nghe” thông qua những dao động của xương hàm. Thật ra, ông cho rằng bệnh khiếm thính của mình xem ra lại là một lợi thế bằng việc sử dụng “kỹ thuật cắn”, ông có thể cảm nhận được. Việc ông không thể nghe được buộc ông  phải nghĩ ra phương pháp cắn, cuối cùng nó đã tạo điều kiện giúp ông điều chỉnh và cải tiến chất lượng âm thanh vượt xa hơn nhiều so với những gì có thể đạt được bằng cách nghe bình thường. Theo cách nhìn này thì thành tựu mà ông đạt được gần như phi thường. Nhưng vượt lên trên sự phát minh, Edison đã chứng tỏ một điều rằng thông qua công việc của mình, có một sự thật truyền động lực cho thế hệ tương lai: đó là đôi khi những trở ngại lớn nhất lại là tài sản quý giá nhất của chúng ta.

Năm 1988 một người đàn ông tên Ralph Teetor, sau khi qua đời, đã được vinh danh tại Automotive Hall of Fame vì có nhiều cống hiến cho ngành công nghiệp ôtô. Teetor là một người đàn ông phi thường, và như Edison, ông có vô số phát minh. Khi chỉ mới 12 tuổi, Teetor và người anh họ đã tự lắp ráp chiếc xe hơi đầu tiên của mình từ A đến Z, ráp nối các bộ phận bằng tay và chế tạo lại một động cơ phế thải. Teetor tốt nghiệp trường Đại học Pennsylvania năm 1912, ông đã chứng minh cho những người cùng khoa thấy họ đã sai khi nghĩ rằng ông không thể tốt nghiệp. Sau đó ông tiếp tục phấn đấu trở thành chủ tịch Tập đoàn The Pertect Circle ở Hagerstown, bang Indiana, một công ty sản xuất vòng đệm pít-tông hết sức thành công.

Teetor phát minh ra máy xén cỏ chạy điện, nhiều loại ổ khóa và giá đỡ cần câu cá. Tuy nhiên, phát minh có ý nghĩa nhất mà nhờ đó ông được nhớ đến nhiều nhất và được vinh danh sau này chính là bộ điều khiển tốc độ tự động dùng cho xe hơi. Ralph Teetor là một kỹ sư cực kỳ tài năng, và điều khiến cho tất cả những thành quả của ông trở nên đáng nể phục hơn nữa nằm ở việc ông bị mù. Từ lúc năm tuổi, ông đã không còn nhìn thấy ánh sáng sau một tai nạn trong cửa hàng.

Teetor không thích nói về sự tàn tật của mình và hầu như không bận tâm gì đến việc mình bị mù. Song, điều đặc biệt thú vị là Teetor, cũng như Edison, đã biến khuyết tật của mình thành một lợi thế. Ví dụ, ông thiết kế ra kỹ thuật cân bằng động cơ tua-bin cánh quạt chạy bằng hơi nước trong tàu diệt ngư lôi. Teetor chưa một lần nhìn thấy động cơ tua-bin cánh quạt. Ông sẽ không thể nhận ra nó nếu vấp phải nó trên đường. Nhưng ông cho rằng, theo một cách nào đó, chính điều đó đã giúp ông. Teetor tin rằng việc ông chưa bao giờ nhìn thấy cánh quạt có nghĩa là ông không bị ảnh hưởng và giới hạn bởi những thiết kế truyền thống. Cuối cùng, nhờ vào trí tưởng tượng của mình cùng xúc giác hết sức nhạy cảm, Teetor có thể giải quyết được vấn đề mà những kỹ sư sáng mắt khác đã phải vật lộn trong nhiều năm.

Ý tưởng phát minh ra bộ điều khiển tốc độ tự động bắt nguồn từ một lần Teetor bị say xe khi đi chung xe với luật sư của mình. Có vẻ như luật sư của ông không thể vừa nói chuyện vừa lái xe cùng một lúc. Khi ông ấy nói thì ông ấy tự động giảm tốc, còn đến lượt Teetor nói thì ông lại đột ngột tăng tốc.

Việc không thể nhìn thấy được khiến người ta dễ bị buồn nôn hơn khi đi trên các phương tiện giao thông. Nhưng cũng chính bởi Teetor nhạy cảm với hiện tượng say tàu xe nên ông nhận ra sự cần thiết của một bộ điều khiển tốc độ tự động dành cho xe hơi. Luật sư của ông lúc đó chạy xe như đang chơi xe điện đụng trong hội chợ còn Teetor phải cố gắng lắm mới không nôn ra ngoài, nhưng chính nhờ trải nghiệm đó đã truyền cảm hứng cho ông về một hệ thống tự động duy trì tốc độ ổn định cho xe hơi.

Teetor thử nghiệm ý tưởng đó trong suốt mười năm cho đến khi ông hài lòng và cho ra đời một sản phẩm đáng tin cậy, lúc đó ông mới đăng ký văn bằng sáng chế. Tuy vậy, mãi đến mười ba năm sau, Chrysler, nhà sản xuất xe hơi đầu tiên mới giới thiệu bộ điều khiển tự động của Teetor trong loạt xe mới của họ. Ngày nay, hầu như mỗi chiếc xe hơi sản xuất tại Mỹ đều có bộ điều khiển tự động theo tiêu chuẩn. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là phát minh thành công nhất của Ralph Teetor. Chính nhờ khuyết tật của mình – khiếm thị – đã cho phép ông làm được những điều vượt ngoài khả năng của những kỹ sư sáng mắt. Teetor phát triển một khả năng cảm nhận đặc biệt giúp ông hình dung các vật thể và cách chúng hoạt động, và rõ ràng chính yếu tố quan trọng đó đã làm nên thành công phi thường của ông – trở thành một trong những nhà phát minh sâu sắc và có nhiều sáng chế nhất trong lĩnh vực máy móc tự động ở thế kỷ hai mươi. Cũng như Edison, tiểu sử của Teetor là một minh chứng thuyết phục về mặt phải.

Cả Ralph Teetor và Thomas Edison đều để lại cho thế giới một di sản vĩ đại gấp nhiều lần những phát minh của họ. Triết lý sống của họ vẫn mãi là kim chỉ nam và là nguồn cảm hứng thúc đẩy hàng triệu người theo đuổi ước mơ của mình, ngay cả khi đối mặt với khó khăn và thất bại. Không ai trong số họ tin vào việc tàn tật, chẳng qua mỗi con người có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau. Bí quyết thành công của họ nằm ở chỗ họ chú tâm vào những gì mình có khả năng thực hiện hơn là những khuyết tật. Thái độ này, rõ ràng, là một điểm chung của hầu hết những người tìm ra mặt phải.

Chính những hiểu biết sâu sắc của Edison về khó khăn và thất bại trong cuộc sống là điểm nổi bật nhất trong chiến lược đi đến thành công của bản thân ông. Edison xem sai lầm là người bạn tốt nhất của con người bởi chúng ta có thể học hỏi được từ chúng. Trong khi những người khác chỉ nhìn thấy thất bại thì Edison lại rút ra bài học kinh nghiệm quý giá. Một lần, khi được hỏi rằng ông có cảm thấy nản lòng không, khi rất nhiều lần thử nghiệm sáng chế bóng đèn điện của ông bị thất bại thì ông trả lời, “Tôi không hề thất bại! Tôi chỉ tìm được 10.000 trường hợp bóng đèn không hoạt động mà thôi!” Ông giải thích thêm cho người phóng viên đang có vẻ bối rối, “Nếu tôi tìm được 10.000 cách thức không hiệu nghiệm, tôi không thất bại. Tôi không nản chí bởi mỗi lần thử nghiệm bất thành là thêm một bước tiến mới.”

Edison tin rằng sai lầm trong cuộc sống tồn tại là để thúc đẩy chúng ta tiến lên phía trước, và sai lầm càng lớn thì ta càng tiến xa hơn. Ông khẳng định sai lầm và trở ngại là những bước không thể tránh khỏi trên con đường đi đến thành công. Nhiều người thường nhắc về chuyện một người quản lý trẻ tuổi làm việc cho hãng máy tính IBM đã phạm sai lầm khiến công ty thiệt hại 10 triệu đô. Khi tin này đến tai chủ tịch công ty, Tom Watson, chàng trai trẻ được triệu tập đến văn phòng của ông. Chàng thanh niên đó biết mình sắp bị đuổi việc, nhưng Watson tin rằng một trong những giá trị cốt lõi của IBM là phát triển con người. Do vậy, khi người quản lý trẻ hỏi liệu mình có sắp bị sa thải hay không thì Watson lập tức khẳng định, “Không!”, rồi ông nói thêm, “Tôi vừa bỏ ra 10 triệu đô để đào tạo anh – tại sao tôi lại muốn đuổi việc anh ngay lúc này?”

Sai lầm thường dẫn đến những sáng tạo bất ngờ. Năm 1970, Spencer Silver được phòng nghiên cứu của công ty 3M tuyển vào với nhiệm vụ giúp phát triển một loại keo siêu dính. Cuối cùng, sản phẩm mà Silver tạo ra lại là một hợp chất kết dính yếu hơn cả cái mà công ty đang có. Nó có thể khiến những mảnh giấy nhỏ dính lại với nhau nhưng cũng dễ dàng tách ra. Anh đã hoàn toàn thất bại, và mãi đến bốn năm sau, anh mới đột nhiên nhận ra chất keo dính ấy có thể hữu dụng.

Một trong những đồng nghiệp của Silver hát trong ca đoàn nhà thờ và những tờ giấy anh dùng để đánh dấu trong quyển thánh ca cứ rơi xuống mãi. Nhớ đến chất keo có độ dính yếu mà Silver tạo ra, người bạn này nảy ra ý tưởng quét chất keo đó lên những tờ giấy đánh dấu, và hết sức vui sướng khi thấy chúng rốt cuộc cũng nằm yên vị đồng thời dễ dàng được gỡ ra mà không làm rách các trang sách. Khám phá này là sự khởi đầu của một sản phẩm về sau được sử dụng rộng rãi trong các văn phòng trên khắp thế giới – giấy ghi chú Post-it!

Kính an toàn, một loại kính không bị vỡ thành từng mảnh khi bị va chạm, hiện nay xuất hiện ở khắp mọi nơi bởi nó giúp người ta tránh được sát thương. Nhưng tại thời điểm Edouard Benedictus, một nhà khoa học Pháp làm việc trong phòng thí nghiệm khoảng đầu thế kỷ 20 thì chưa ai nghe nói đến kính an toàn. Nhưng chính một sự cố trong phòng thí nghiệm đã làm ông lóe lên ý tưởng đó. Benedictus lỡ tay hất một chiếc bình thí nghiệm bằng thủy tinh rớt xuống sàn. Anh nghe thấy tiếng vỡ, nhưng khi nhìn xuống anh không thể rời mắt vì kinh ngạc. Toàn bộ các mảnh vỡ vẫn dính chặt vào nhau. Chiếc bình không hề bị nát vụn hay vỡ thành từng mảnh. Khi xem xét kỹ hơn thì anh đã hiểu lý do tại sao. Hóa ra chiếc bình này chứa đầy chất dẻo lỏng, sau khi bay hơi, để lại một lớp chất dẻo mỏng bên trong thành bình. Chính lớp màng mỏng đó đã giữ cho chiếc bình thủy tinh không bị vỡ vụn.

Mặc dù sự cố đó đã gây chú ý cho Benedictus nhưng anh vẫn chưa nhận thấy bất kỳ ứng dụng thực tế nào và không tìm hiểu thêm cho đến khi anh chứng kiến một tai nạn xe hơi. Vào đầu thế kỷ 20, xe hơi chỉ mới bắt đầu phổ biến trong giới thượng lưu Paris, và dạng chấn thương thường gặp nhất trong các vụ tai nạn xe hơi lúc bấy giờ là những vết cắt do miếng kính chắn gió gây ra. Benedictus chợt nhận ra khám phá trước đây của mình hé lộ một cơ hội. Kính chắn gió tráng nhựa sẽ ngăn ngừa hầu hết các chấn thương do tai nạn giao thông.

Thật không may là ý tưởng của Benedictus đã bị các nhà sản xuất xe hơi bác bỏ với cùng một lý do mà họ dùng để từ chối rất nhiều phát minh về sự an toàn khác trong suốt thế kỷ qua: chi phí. Tuy nhiên, sau khi kính an toàn được ứng dụng thành công vào việc giúp các binh lính tránh những chấn thương do kính mặt nạ chống độc bị vỡ gây ra trong suốt Thế chiến thứ nhất, các nhà sản xuất xe hơi đã thay đổi quan niệm của họ. Ngày nay, kính an toàn của Benedictus được dùng ở tất cả những nơi mà kính vỡ có thể gây ra nguy hại.

Có thể phải mất đến bốn năm và nhờ một ca sĩ trong ca đoàn nhà thờ để Spencer Silver tìm được mặt phải cho thất bại của mình, và phải đến khi chứng kiến một vụ tai nạn xe hơi thì Edouard Benedictus mới nhận ra cơ hội ngay trước mắt khi anh đánh rơi chiếc bình thí nghiệm bằng thủy tinh, nhưng tương tự như nhiều nhà khoa học khác, cả hai người đàn ông này đã học hỏi và được hưởng lợi từ một trong những viên ngọc trí tuệ của Thomas Edison: đó là “khi một thứ không hoạt động theo đúng ý bạn thì không có nghĩa là nó vô dụng.”

Trong khi Edison luôn xem xét khó khăn theo nhiều khía cạnh khác nhau thì ông lại không bao giờ xem bản thân mình là một nhà khoa học như Edouard Benedictus. Một nhà khoa học là người tiến hành các thí nghiệm và quan sát điều gì sẽ xảy ra. Edison xem mình như một nhà phát minh. Ông không “khám phá” sự việc, ông “phát minh” ra giải pháp, và ông luôn tìm kiếm những vấn đề cần được giải quyết. Ông nói, “Tôi tìm hiểu xem thế giới cần gì rồi mới bắt đầu sáng tạo ra nó… Không một phát minh nào của tôi ngẫu nhiên mà đến cả.” Edison đi tìm những khó khăn bởi ông hiểu rằng ẩn chứa bên trong mỗi khó khăn là một cơ hội đang chờ đợi được khám phá.

Chắc không có gì nản lòng hơn là việc đứng xếp hàng mà hầu như không có vẻ dịch chuyển chút nào. Chúng ta ai cũng từng trải qua chuyện đó, đứng ở phía cuối hàng tại quầy cho thuê xe hơi ở sân bay trong khi nhân viên phụ trách mải tán chuyện với bạn qua điện thoại, hoặc xếp hàng ở quầy tính tiền ở siêu thị trong khi nhân viên thu ngân bận chòng ghẹo đồng nghiệp. Hãy tưởng tượng xem liệu bạn sẽ phản ứng ra sao nếu bạn phải đứng xếp hàng suốt ba ngày!

Năm 1995 người dân ở Katmandu rơi vào tình trạng thiếu ga nấu ăn nghiêm trọng. Sanu Kaji Shrestha đứng xếp ở cuối một hàng dài chờ đến ba ngày để có được lượng ga cần thiết cho gia đình. Anh không có cách nào khác ngoài việc xin nghỉ làm ba ngày và kiên nhẫn đợi đến lượt mình. Tuy nhiên, không như hàng trăm người khác mỏi mòn chờ đợi, Sanu nhận ra một cơ hội. Trong lúc đứng chờ, Sanu bắt đầu nghĩ cách mang nguồn năng lượng thay thế ổn định trong nước đến với người dân Nepal. Càng nghĩ anh càng cảm thấy phấn khích.

Suốt 5 năm sau, Sanu miệt mài tìm kiếm những nguồn nhiên liệu thay thế và đến năm 2001, anh chính thức nghỉ việc ở Ngân Hàng Thế Giới để tập trung hoàn toàn cho mục tiêu của mình. Anh đến Mỹ và Châu Âu để tìm hiểu về những công nghệ tiên tiến nhất và vào tháng 4 năm 2002, anh thành lập Foundation for Sustainable Technologies – FoST (Tổ Chức Nghiên Cứu Công Nghệ Bền Vững) – một tổ chức phi lợi nhuận độc lập. Từ khi được thành lập, FoST đã cung cấp những giải pháp công nghệ bền vững cho hơn một ngàn hộ gia đình trong những ngôi làng nông thôn nghèo ở Nepal và liên tục tìm kiếm những công nghệ mới. Trang web của FoST xác nhận, “Nepal đang gặp những vấn đề nghiêm trọng do việc chặt phá rừng bừa bãi, môi trường xuống cấp, ô nhiễm quá mức… thiếu nguồn cung cấp nước uống sạch và công tác quản lý chất thải còn kém.” Họ còn dự đoán rằng cứ đà này, phần lớn diện tích rừng của Nepal sẽ biến thành sa mạc và kéo theo những trận thiên tai “rất khó chống chọi” và không thể tránh khỏi. Nhưng FoST đang đấu tranh vì quyền lợi của người dân Nepal, họ giáo dục và thuyết phục người dân sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên để tránh gây nguy hại cho thế hệ tương lai. Sanu Kaji Shrestha đã khởi xướng một cuộc vận động cứu lấy Nepal khỏi thảm họa tự diệt vong, và sứ mệnh của anh được khơi nguồn từ nỗi thất vọng khi bị mắc kẹt trong một hàng dài người chờ đợi.

Ngày 17 tháng 8 năm 2008, tờ Mail on Sunday của Anh đăng một bản tin với tựa đề “Người nông dân biến khói thải máy kéo thành phân bón”. Nghe như một ví dụ hoàn hảo về mặt phải trong công việc. Một vấn đề, đặc biệt là vấn đề ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh, tài chính lẫn môi trường, đã hé lộ một cơ hội lớn lao.

Bài báo kể câu chuyện về Steve Heard, một nông dân ở Leicestershire, nước Anh, người đã lấy khí thải từ máy kéo chạy dầu diesel (loại khí thải được xem là độc hại cho con người và môi trường) và chuyển nó thành phân bón giàu khoáng chất để cải thiện đất đai trong nông trại của ông.

Với giá phân bón hóa học không ngừng tăng nhanh, Heard biết trước ông cần giảm thiểu việc phụ thuộc vào chúng. Năm 2008, chi phí phân bón phục vụ cho nông trại của ông tăng vọt lên 250.000 bảng một năm. Giá phân bón gắn bó mật thiết với giá dầu, và dầu đã chạm ngưỡng chưa từng có vào tháng 7 năm 2008 với giá 148 đô một thùng trên thị trường quốc tế. May mắn thay, lúc đó Heard đang bắt tay vào một kế hoạch.

Năm 2007, Heard đã quyết định đó là thời điểm thích hợp để tìm loại phân bón mới cho hơn 1.000 hecta đất của ông. Là một kỹ sư nghiệp dư, ông bỏ ra sáu tháng và hơn 10.000 bảng nhằm khai sinh một hệ thống mang tính cách mạng, sử dụng khói thải từ máy kéo để bón cho đất. Khói diesel chứa rất nhiều khoáng chất và mặc dù nó độc hại cho người nhưng nó lại cực kỳ hữu ích cho đất. Một hệ thống tương tự đã được thử nghiệm trên hơn một trăm nông trại ở Mỹ và Canada nhưng Heard là người tái phát minh ra hệ thống này trên thị trường nước Anh.

Hệ thống của Heard được cải tiến ở chỗ: khói thải được dẫn từ máy kéo vào một thùng lớn đặt bên hông máy, ở đó khí được làm nguội trước khi bơm qua 27 đường ống cắm sâu xuống lòng đất. Ông nói, “Chúng tôi đặt một dụng cụ phân tích phía sau máy kéo và kết quả cho thấy 98% lượng khói thải ra được bơm vào trong đất.” Kỹ thuật này, theo Heard, làm giảm độ chua của đất, nhờ đó cây trồng có thể tự tổng hợp chất đạm, rễ cây cũng phát triển khỏe hơn và phụ thuộc rất ít vào phân bón hóa học. Nhìn chung, Heard tin rằng hệ thống đã cắt giảm khoảng 1/3 chi phí phân bón cho ông, và nó cũng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt hơn, kết quả thu hoạch cao hơn. Hệ thống của ông đã được cấp văn bằng sáng chế, Breathing Life Into Soils System – BLISS (Thổi Sự sống Vào Đất) vì mang lại lợi ích cho đất và môi trường đồng thời tiết kiệm tài chính đáng kể cho nhà nông, về phần Steve Heard, sáng chế này đã giúp ông cắt giảm chi phí thành công và còn mở ra cơ hội kinh doanh mới đầy tiềm năng, có thể thay đổi hoàn toàn phương pháp nông nghiệp ở Anh Quốc.

Trevor Bayliss là một nhà phát minh người Anh nổi tiếng lần đầu tiên tạo được tên tuổi bằng một phát minh nhằm đối phó lại nạn HIV/AIDS ở Châu Phi. Ca nhiễm AIDS đầu tiên ở Châu Phi được ghi nhận vào năm 1982. Đến năm 1989, căn bệnh lan tràn và bùng phát khắp châu lục như một trận cháy rừng. AIDS đang có nguy cơ trở thành một trong những đại dịch thế kỷ. Lúc đó Bayliss đang ngồi nhà xem tivi ở Anh, và những vấn đề xung quanh bệnh dịch AIDS lần đầu tiên khiến ông chú ý. Ông kể, “Tôi đang xem tivi, vừa gác chân vừa ngậm tẩu thuốc, còn bộ điều khiển từ xa thì nằm tận đâu đâu. Trên tivi xuất hiện chương trình về nạn dịch HIV/AIDS bùng nổ ở Châu Phi. Có thể tôi đã xem chương trình Come Dancing hay một chương trình nào khác, nhưng tình cờ tôi lại xem chương trình này, và họ nói cách duy nhất để có thể chấm dứt căn bệnh kinh khủng này là tuyên truyền, giáo dục người dân Châu Phi, và qua đài phát thanh là phương pháp hữu hiệu nhất.” Nhưng, một trở ngại lớn đang tồn tại – hầu hết người dân Châu Phi không có nguồn điện, và nếu có thì ở dạng pin – thứ hàng hóa đắt tiền và rất ít nơi bán.

Điều này làm Bayliss suy nghĩ. Ông nói, “Tôi đi lạc vào một giấc mơ: tôi thấy mình đang ở thuộc địa Châu Phi, mang theo một chiếc kính một tròng, một chai rượu gin, một chai thuốc bổ và một cây vợt đập ruồi, và tôi đang lắng nghe một bài hát thô tục phát ra từ chiếc máy hát chạy bằng dây cót với một cái loa to gắn ở bên trên. Rồi tôi ngẫm nghĩ, xem nào, nếu bạn có thể tạo ra những tiếng ồn đó bằng cách kéo lê một chiếc đinh rì dọc theo một tám giấy tựa như bạn đang dùng một chiếc lò xo thì cơ năng trong chiếc lò xo đủ để chạy một máy phát điện nhỏ, và máy phát điện đó làm cho chiếc radio hoạt động… Không buồn tắt tivi, tôi đi vào nhà kho, đó là một “bãi chiến trường” la liệt đủ thứ linh kiện điện gia dụng, và tôi lắp ráp ra thứ vừa nghĩ ra.”

Chiếc radio lên dây cót đã trở thành phát minh nổi tiếng nhất của Bayliss. Nguyên bản gồm có một máy thu thanh bán dẫn, một môtơ điện lấy từ chiếc xe đồ chơi và động cơ bánh răng lấy từ một hộp phát nhạc. Bayliss đăng ký văn bằng sáng chế cho ý tưởng của mình nhưng mãi đến năm 1994, khi ông được mời đến giới thiệu sản phẩm trên chương trình Tomorrow’s World của đài BBC thì người ta mới bắt đầu chú ý đến nó. Bayliss đã phát minh ra thiết bị điện tự cấp và chạy bằng dây cót đầu tiên và tự mình cung cấp giải pháp cho nhu cầu phổ cập thông tin tuyên truyền và giáo dục đến người dân trên khắp lục địa Châu Phi.

Giống như Edison, Sanu Kaji Shrestha, Steve Heard và Trevor Bayliss không phải là những nhà khoa học. Họ sống và làm việc trong thế giới thực hơn là trong phòng thí nghiệm. Họ có cách tiếp cận vấn đề, khó khăn trong cuộc sống theo phong cách Edison, hoàn toàn tương phản với thái độ của người bình thường. Hầu hết chúng ta sẽ nản lòng trước những vấn đề và trở ngại dồn dập trong cuộc sống, nhưng những nhà phát minh như Thomas Edison lại trở nên háo hức khi thấy khó khăn vì họ biết trong khó khăn chứa đựng cơ hội. Khó khăn dẫn dắt Edison cả trong công việc lẫn cuộc sống. Khi ông gặp một điều gì đó không như ý trong bất kỳ lĩnh vực nào, thay vì buồn phiền và giận dữ thì Edison lại tỏ ra phấn khích và tìm kiếm mặt phải. Ông nói, “Việc không ngừng nghĩ xuất phát từ việc không bằng lòng và không bằng lòng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển. Hãy chỉ cho tôi một người bằng lòng với mọi thứ và tôi sẽ chỉ cho bạn sự thất bại.”

Thomas Edison có thể lừng danh do những phát minh, nhưng niềm tin của ông rằng khuyết tật có thể là tài sản, khó khăn luôn là cơ hội và sai lầm chính là bài học kinh nghiệm, đã giúp thay đổi thế giới không kém gì bất kỳ phát minh nào của ông. Triết lý sống của ông là nguồn cảm hứng không ngừng thúc đẩy mọi người sáng tạo, phát minh và tìm kiếm mặt phải khi vấp phải thử thách. Đó mới là di sản vĩ đại nhất của ông.

Phần 2 – Chương 12
Đánh giá bài viết