Phần 2 – Chương 13

NGHỆ THUẬT NHÌN NHẬNBIẾN CÁI KHÔNG THỂ THÀNH  THỂ

Biến cái không thể thành  thể  một niềm vui. ” – Walt Disney19011966

Khi nghe một trong những vị tướng của mình nói rằng chiến lược của ông không thể thực hiện được thì Napoleon Bonaparte trả lời, “Không thể là một từ chỉ được tìm thấy trong từ điển của những kẻ ngu dốt!” Những gì trong quá khứ cho thấy Napoleon hiểu rất rõ từ điển của mình. Vào đầu thế kỷ 20, không ai nghĩ rằng con người có thể bay, nhưng hai anh em Wilbur và Orville Wright không tin là như vậy, và năm 1903 anh em nhà Wright đã chứng minh thành công rằng con người có thể lái một động cơ nặng hơn không khí và bay được. Mặc dù chiếc điện thoại truyền thống đã được Alexander Bell và Elisha Gray phát minh vào năm 1876 nhưng có rất ít người tin rằng rồi đây con người có thể nói chuyện được với một người khác cách mình nửa vòng trái đát bằng chiếc điện thoại không dây. Và trước năm 1969, nếu bạn nói với ai đó rằng con người có thể đi bộ trên mặt trăng thì họ sẽ nhìn bạn như thể bạn bị điên. Ngược dòng thời gian, chúng ta học được là những gì trở thành hiện thực ngày hôm nay đều là những cái không thể ngày hôm qua. Như vậy, ta có thể kết luận chắc chắn rằng: nhiều điều không thể trong hiện tại có thể trở thành những điều có thể trong tương lai, và những người hiểu được điều này thường là những người tìm ra mặt phải.

Năm 1988, khi phục vụ trong quân đội Israel, Radi Kaiof bị chấn thương khiến anh bị liệt từ hông trở xuống. Trong suốt hai mươi năm, cuộc sống của Radi gắn chặt với chiếc xe lăn. Do tủy sống của anh bị tổn thương không thể nào phục hồi, Radi được cho biết là anh sẽ không bao giờ đi lại được nữa. Nhưng “không bao giờ” là một từ khác nằm trong từ điển của những kẻ ngu dốt. Ngày nay, Radi đã có thể bước đi. Anh có thể tự đứng dậy khỏi ghế, leo cầu thang và lên xuống xe hơi. Những việc Radi làm cùng với quá khứ của anh truyền nguồn cảm hứng cho những người khác. Khoan nói gì đến những bước đầu tiên của Neil Amstrong trên mặt trăng, việc Radi Kaiof có thể đi lại mà không cần xe lăn đã là một điều kỳ diệu.

Điều kỳ diệu đã giúp Radi Kaiof có thể đi lại được sau hai mươi năm ngồi xe lăn chính là kết quả có được từ mặt phải của một tai nạn đã khiến một người đàn ông khác bị liệt toàn thân. Năm 1997, Amit Goffer là Tổng giám đốc điều hành Odin Technologies, một công ty chuyên sản xuất các thiết bị y tế về chẩn đoán hình ảnh như thiết bị chụp cộng hưởng từ MRI. Sau khi bị tai nạn, Amit phải di chuyển bằng xe lăn và chính việc đi lại khó khăn đó đã thôi thúc ông tìm kiếm cơ hội thay đổi cuộc đời. Ông không thể không thắc mắc tại sao trong thế giới công nghệ chúng ta đang sống ngày nay, xe lăn  lại là giải pháp duy nhất cho những người bị liệt hai chân. Hiện tại ông không tìm ra thiết bị nào khác ngoài những chiếc xe lăn hỗ trợ người bị liệt hai chân di chuyển, và ông tự hỏi “tại sao?”

Đó là sự khởi đầu của một sản phẩm mới mang tính cách mạng có tên “ReWalk™”, thiết bị cho phép Radi Kaiof sống không lệ thuộc vào chiếc xe lăn.

Sản phẩm ReWalk™ bao gồm hai chân rôbốt, thiết bị cảm biến gắn trên cơ thể và một túi đeo sau lưng có chứa một hộp điều khiển máy tính và pin sạc. Người dùng cần thêm một cặp nạng để giữ thăng bằng, và thiết bị này được vận hành bằng đồ điều khiển từ xa đeo ở cổ tay với các chế độ – đứng, ngồi, đi bộ, leo lên hay leo xuống. Sau đó, chỉ cần ngả người về phía trước, thiết bị cảm biến được kích hoạt và các chân rôbốt sẽ phản hồi.

Sự khác biệt mà ReWalk™ có thể tạo ra cho cuộc sống của những người bị liệt hai chân là vô hạn. Kate Parkin, giám đốc vật lý trị liệu ở Trung tâm Y tế Đại học New York, nói rằng thiết bị này có khả năng cải thiện sức khỏe cho người sử dụng theo hai cách: “Về thể chất, cơ thể con người hoạt động rất khác khi ta đứng thẳng người. Bạn có thể vận động nhiều cơ bắp khác nhau và phổi bạn nở tối đa. Về tâm lý, thiết bị này cho phép người bị liệt đứng thẳng và giao tiếp bằng ánh mắt.”

Khi tôi hỏi Amit tại sao ông ấy lại nghĩ mình có thể thấy được một cơ hội sau khi bị tai nạn thì ông trả lời rát giản dị và khiêm tốn, “Tôi làm điều đó một cách tự nhiên, tôi là một doanh nhân và tôi nhìn thấy cơ hội.” Rồi ông giải thích rằng việc tìm kiếm cơ hội cũng hơi giống như khi ta nấu canh. Không có một gia vị thần kỳ riêng lẻ nào. Đó là sự kết hợp của nhiều loại gia vị khác nhau, một điều nữa cũng quan trọng không kém chính là những người xung quanh luôn ủng hộ ông hết mình, trong số đó là gia đình tuyệt vời của ông với vợ và ba đứa con đã lớn. Tuy vậy, Amit cũng thừa nhận rằng mình có một cái nhìn tích cực và lạc quan về cuộc sống, bởi ông là một doanh nhân bẩm sinh. Theo bản năng, ông luôn tìm kiếm cơ hội và luôn có được chúng. Liệu ông có bao giờ nghĩ mình sẽ phát minh ra ReWalk™ nếu tai nạn này không xảy ra? Câu trả lời chắc chắn là “Không”. Ông nói, “Tai nạn đó đã thúc đẩy tôi nghiên cứu và phát triển ReWalk™”, tai nạn đó ẩn chứa một mặt phải thật tuyệt vời.

ReWalk™ là một thành tựu đáng kể có khả năng giúp hàng trăm ngàn người trên khắp thế giới bước đi trở lại và tận hưởng chất lượng cuộc sống hoàn toàn khác biệt. Đáng buồn thay, ReWalk™ lại không thể giúp Amit, cha đẻ của nó, bởi ông không thể sử dựng toàn bộ chức năng của hai cánh tay của ông. Tuy vậy, đối với những người như Amit trên thế giới, tôi tin rằng trong một ngày không xa, một giải pháp khả thi khác sẽ giúp tất cả những người bị liệt có thể đi lại.

Điều gì được xem là không thể thực hiện hơn cả việc một người bị liệt bước đi trở lại? Để tôi giới thiệu với bạn một người bạn nhỏ tuổi ở thành phố Sacramento, bang California. Câu chuyện của cậu bé sẽ thật sự khiến bạn kinh ngạc.

Ben Underwood là một thiếu niên khỏe mạnh, bình thường về mọi mặt. Cậu thích làm tất cả những gì mà bạn nghĩ một thiếu niên sẽ làm: cậu chạy quanh nhà đùa giỡn với anh em và các bạn, cậu chạy xe đạp, trượt ván, trượt pa-tin, chơi bóng rổ, và dĩ nhiên cậu cũng thích chơi trò chơi điện tử Nintendo. Nếu chỉ quan sát vẻ bề ngoài, rất khó để bạn biết được bên trong cậu bé là một bí mật không thể tin được. Một bí mật, mà khi bạn biết, sẽ đập tan tất cả những quan niệm của bạn về những gì không thể hoặc có thể; cậu không có mắt, cái mà bạn nhìn thấy chỉ là mắt giả, hoàn toàn mang tính thẩm mỹ. Tuy nhiên, thật phi thường, Ben Underwood tự dạy cho bản thân cách nhìn.

Ben sống với gia đình ở ngoại ô Sacramento. Khi được hai tuổi, mẹ cậu, bà Aquanetta để ý thấy con ngươi trong hai mắt cậu chuyển sang màu trắng đục. Chỉ trong vài ngày, hai con ngươi cậu bé đã trắng dã. Dấu hiệu này cho thấy Ben bị một khối u ác tính hiếm có, tỉ lệ là 6 trên 1.000.000 trẻ em mắc phải, gọi là ung  thư nguyên bào võng mạc (retinoblastoma). Bác sĩ giải phẫu mắt cho Ben, Tiến sĩ James Ruben giải thích rằng, “Nếu cứ để yên thế này, bệnh có thể gây ra tử vong. Căn bệnh sẽ giết chết cậu bé. Bệnh sẽ di căn ra khắp cơ thể và chắc chắn thằng bé không sống nổi.” Nếu Ben không được chữa trị, khối u sẽ theo dây thần kinh thị giác di căn lên não.

Lập tức Ben được chữa trị tích cực bằng phương pháp hóa trị và xạ trị với nỗ lực cứu lấy đôi mắt của cậu, nhưng sau mười tháng, khối u vẫn không hoàn toàn biến mất. Mẹ của Ben đứng trước một quyết định khó khăn nhất trong đời: tiếp tục chữa trị với nguy cơ khối u sẽ di căn lên não của Ben, cũng có nghĩa là cầm chắc cái chết, hoặc cho phép bác sĩ múc bỏ đôi mắt Ben và cứu sống cậu, nhưng buộc cậu bé phải sống một cuộc sống chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Bà đã lựa chọn phương án hai.

Khi Ben thức giấc sau ca giải phẫu, cậu nghe tiếng mẹ ở bên tai và cậu nói với mẹ, “Mẹ ơi, con không nhìn thấy được nữa, con không nhìn thấy được nữa. Ôi, mẹ ơi, con không nhìn thấy gì hết.” Nhưng Aquanetta đã trấn an cậu, “Con có thể nhìn thấy, Ben à. Con có thể nhìn thấy bằng đôi tay của con,” rồi bà áp hai bàn tay của cậu lên mặt của mình. “Con có thể nhìn thấy bằng mũi của mình,” và bà đặt tay mình lên mũi của cậu, rồi bà lại nói, “Con có thể nhìn thấy bằng tai của mình. Con yêu, con nghe mẹ nói rồi đấy.” Từ khoảnh khắc đó, Aquanetta không cho phép con trai nghĩ mình là một người mù. “Con không còn đôi mắt nữa,” bà nói với con, “nhưng con còn đôi tay, mũi, và hai tai… con vẫn có thể nhìn thấy được.” Mẹ của Ben quyết tâm rằng đứa con nhỏ của bà sẽ được sống một cuộc sống bình thường nhất có thể. Đôi khi, bà tự nhốt mình trong phòng và khóc, nhưng khi bước ra ngoài, bà không bao giờ để Ben biết là bà tiếc thương cho con đến nhường nào. Bà nói, “Bởi tôi không muốn cháu thương hại chính bản thân mình. Tôi luôn tiếp thêm cho con sự tự tin, lòng dũng cảm và sức mạnh. Đó là tất cả những gì mà tôi đã làm.”

Một năm sau khi Ben mất đi đôi mắt, một điều đã xảy ra làm sửng sốt mẹ của cậu. Khi bà đang lái xe thì Ben hỏi, “Mẹ, mẹ có thấy tòa nhà to ở đằng kia không?”, Aquanetta sững sờ. Cả hai vừa chạy ngang qua một tòa nhà lớn. Bà nói, “Mẹ thấy một tòa nhà lớn ở đó, nhưng con có thấy không?” Ben đã làm được một điều mà cho đến gần đây, hầu hết các nhà khoa học vẫn tin là không thể. Cậu đã tự học cách nhìn mà không cần đôi mắt. Cũng giống như lời người mẹ đã trấn an cậu, Ben có thể nhìn thấy thế giới xung quanh… bằng âm thanh.

Ben là người duy nhất trên thế giới có thể nhìn thấy mà không cần bất cứ thứ gì hỗ trợ ngoại trừ một thứ gọi là “echolocation” (định vị bằng tiếng vang). Cậu tập cho cơ thể mình định vị các vật thể bằng cách tặc lưỡi một cái và lắng nghe tiếng vang. Với phương pháp này cậu có thể xác định được vật thể, nhìn thấy kích cỡ, hình dáng và biết được chính xác nó đang ở đâu. Phải tận mắt chứng kiến khả năng của Ben thì người ta mới tin nổi. Không một ai, kể cả trong giác mơ hoang đường nhaất, lại có thể tưởng tượng rằng có người có khả năng nhìn thấy mà không cần mắt… ngoại trừ một người, một nhà khoa học về não bộ lỗi lạc đã dạy cho rất nhiều người mù nhìn thấy lại được mà không cần dùng mắt.

Năm 1969, tạp chí khoa học Nature có đăng một bài viết của một nhà khoa học nói rằng ông đã phát triển một thiết bị có thể giúp người khiếm thị bẩm sinh nhìn thấy được. Nhà khoa học về thần kinh Paul Bach-y-rita đã phát minh ra một thiết bị gồm có một chiếc máy quay phim lớn có thể truyền tín hiệu điện đến một tấm kim loại đằng sau một chiếc ghế. Tấm kim loại này có 400 đầu rung kích thích gắn lên da của người khiếm thị. Mỗi đầu rung đóng vai trò như một điểm ảnh (pixel) trên màn hình tivi để thể hiện các sắc thái đen và trắng. Phương pháp này được gọi là “hiển thị xúc giác” và những người khiếm thị được huấn luyện cách sử dụng thiết bị này có thể đọc, nhận dạng khuôn mặt, nhận biết vật thể và xác định khoảng cách. Khi họ điều khiển chiếc máy quay phim và miêu tả những gì họ thấy, họ có thể chỉ ra chính xác từng người cụ thể, họ có thể cho biết một người trong phòng đang đứng hay ngồi, tóc xõa xuống hay búi cao. Họ có thể nhận ra người đó có đeo kính hay không, đang mở miệng hay không và thậm chí thấy được người đó cử động tay phải hay tay trái.

Phát minh của Bach-y-rita bị phần lớn cộng đồng khoa học tẩy chay vì nó có vẻ quá dị thường. Ngày nay, với những bước nhảy vọt của ngành công nghệ máy tính, Bach-y-rita đã cải tiến phát minh của mình bằng cách dùng những chiếc máy quay phim tí hon được tích hợp vào kính mắt cho người khiếm thị đeo, từ đó truyền thông tin đến một bộ vi xử lý nằm trên lưỡi họ. (Người ta khám phá ra lưỡi là khu vực nhận tín hiệu tốt hơn nhiều bởi nó nhạy cảm hơn lưng và nước bọt giúp cho việc truyền tín hiệu hiệu quả hơn.)

Trong khi hầu hết các nhà khoa học đều ấn tượng với phát minh của Bach-y-rita thì vẫn còn một số từ chối công nhận việc này, bởi theo họ, như thế không được gọi là “nhìn”. Một nhà khoa học về não bộ đã nói, “Nếu võng mạc không được kích thích thì theo quan niệm của tôi thế không được gọi là nhìn.” Tuy nhiên, Bach-y-rita đã chứng minh rằng phần thị giác của não bộ cũng được thiết bị này kích thích. Đôi mắt chỉ có chức năng truyền tín hiệu đến não, nơi đây thông tin sẽ được xử lý và việc “nhìn thấy” mới thật sự xảy ra. Bach-y-rita nói, “Không có gì đặc biệt về dây thần kinh thị giác cả. Bộ não không quan tâm thông tin từ đâu đến. Bạn có cần đưa hình ảnh vào não để thấy không? Ồ không! Nếu bạn phản ứng với ánh sáng và cảm nhận được, nghĩa là bạn nhìn thấy.”

Công trình của Bach-y-rita theo một cách nào đó hướng tới việc giải thích Ben Underwood đã tự học cách nhìn như thế nào. Cậu tập cho đôi tai nhận biết qua tiếng vang để xác định những vật thể xung quanh và vị trí của chúng. “Cháu có thể nghe thấy bức tường đằng kia”, Ben vừa chỉ tay vừa nói, “ghế sofa, bức tường sau lưng cháu, tivi và máy vi tính.” Khả năng của cậu bé là một thành tựu đáng kể vượt xa mọi giới hạn y học. Cậu cho thấy não bộ con người không chấp nhận những gì gọi là bất khả thi. Ben xuất hiện trên truyền hình và phim tài liệu chiếu trên khắp thế giới. Cậu bé thông minh, dí dỏm, đẹp trai, có óc hài hước tuyệt vời và yêu thương cuộc sống. Cậu có những mơ ước và hy vọng cao đẹp. Ben nói, “Cháu muốn trở thành một tác giả, một nhà phát minh trò chơi điện tử.” Và những người biết đến cậu sẽ không nghi ngờ gì việc cậu sẽ thành công, trong bất cứ điều gì mà cậu đã quyết tâm làm.

Một số người sẽ cho rằng Ben có số làm nên nghiệp lớn. Những gì cậu đạt được ngày hôm nay, phần lớn là nhờ vào sự hỗ trợ, niềm tin và tình yêu mà cậu nhận được từ gia đình, bạn bè và đặc biệt là người mẹ Aquanetta đáng kính của mình. Đến nay, câu chuyện của Ben đã chứng tỏ một sự thật rằng: nếu ta có một thái độ đúng đắn, thì gần như không có điều gì là không thể đạt được. Hơn thế nữa, Ben Underwood đã trở thành biểu tượng cho niềm hy vọng và động lực cho hàng trăm ngàn người đã chứng kiến hoặc từng nghe đến câu chuyện của cậu. Bằng cách quên đi những bất hạnh và bất chấp những hạn chế về thể chất mà người khác ngoài gia đình và bạn bè cậu cho rằng cậu sẽ vấp phải, Ben đã làm được điều mà chỉ vài người có thể làm được trong suốt lịch sử; cậu đã biến điều không thể thành có thể. Và, bằng cách đó, cậu đã tìm thấy một mặt phải lớn lao.

Một điều không thể nữa là một cậu bé mơ ước được chơi trong giải bóng chày chuyên nghiệp. Làm thế nào mà  một cậu bé bị mất đi cánh tay phải trong một tai nạn ở nông trại gia đình lại có thể trở thành một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp? Đó là một điều không thể. Ngoại trừ việc không ai nói như thế với cậu cả.

Năm 12 tuổi, Peter Gray bị trượt té khỏi chiếc xe chở hàng của cha khi xe đang chạy bon bon trên đường. Cậu lọt xuống gầm xe và bị hai bánh xe cán nát cánh tay phải. Các bác sĩ không còn lựa chọn nào khác, họ  buộc phải cắt cụt cánh tay phải của cậu từ vai. Như ta có thể đoán, việc mất đi cánh tay phải khiến Peter bị tổn thương nặng nề nhưng cậu không từ bỏ ước mơ của mình. Qua thời gian, cậu học được cách ném và bắt bóng bằng tay trái, và cậu cũng đánh bóng bằng cánh tay duy nhất của mình. Cậu học cách chặn bóng và ném bóng với một chiếc găng tay bóng chày. Một cách nhanh chóng, cậu có thể bắt lấy trái bóng bằng tay trái đeo găng, nhét quả bóng dưới nách phải, giũ bỏ găng ra khỏi bàn tay trái, chộp lấy quả bóng và ném đi.

Sau khi tốt nghiệp cấp ba, Peter chơi trong giải bóng chày bán chuyên dành cho thanh thiếu niên cho đến năm 1942, anh có cơ hội gia nhập đội Memphis Chicks trong Giải bóng chày miền Nam. Chỉ trong hai năm, anh đã giành được 63 chốt gôn và có tỉ lệ đánh bóng thành công trung bình là 0.333. Anh được bình chọn là cầu thủ sáng giá nhất giải và trước khi mùa thi đấu kế tiếp bắt đầu, đội bóng chuyên nghiệp St Louis Browns đã ký hợp đồng với anh. Trong mùa giải tiếp theo, Peter Gray đã đạt được ước mơ thời thơ ấu của mình và chơi trong giải bóng chày chuyên nghiệp, đỉnh cao là thời gian anh chơi cho đội bóng New York Yankees. Đội Browns vô địch mùa giải với ba trận thắng liên tiếp và Gray đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng này với năm cú đánh trúng bóng, hai trong số đó ăn điểm trực tiếp.

Dù tên anh chưa bao giờ được nhắc đến tại Baseball Hall Of Fame (Sảnh vinh danh môn bóng chày) nhưng trên hết, Peter Gray đã thực hiện được mơ ước thời thơ ấu của mình: chơi trong đội bóng chày chuyên nghiệp. Anh đã trở thành nguồn cảm hứng cho những binh sĩ Hoa Kỳ trở về nhà sau Thế chiến thứ hai, đặc biệt là những người bị mất tay chân trong chiến tranh. Anh thường xuất hiện trong các bộ phim thời sự quay cảnh anh đến thăm các bệnh viện quân y và trung tâm phục hồi sức khỏe để an ủi những người bị cụt chân tay rằng cuộc đời của họ vẫn đáng sống.

Thành tựu của Peter Gray trong những năm 1940 nêu lên một câu hỏi: liệu một người với chỉ một cánh tay có thể chơi cho đội bóng chày chuyên nghiệp trong thế giới thể thao hết sức cạnh tranh ngày nay không? Câu trả lời chắc chắn là “có”. Người với một cánh tay không chỉ có khả năng chơi trong đội bóng chày chuyên nghiệp mà thậm chí còn có thể trở thành cầu thủ chủ chốt trong đội bóng – người ném bóng.

Vào ngày 4 tháng 9 năm 1993, một thanh niên bước lên ụ để ném bóng cho đội New York Yankees trước đội Cleveland. Cuối trận đấu, đội Yankees thắng 4-0. Trong suốt trận đấu, không một cầu thủ nào của đội Cleveland có thể đánh trúng bóng. Đây là lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, một cầu thủ ném bóng của đội Yankees đã làm nên trận thắng ăn điểm trực tiếp ấn tượng như vậy. Ít người hâm mộ bóng chày nào từng xem trận đấu đó lại có thể quên được người ném bóng của đội Yankees ngày hôm ấy. Tên anh là Jim Abbott. Anh ấy chỉ có một cánh tay.

Chính xác thì Jim Abbott có hai cánh tay, nhưng bẩm sinh anh chỉ có một bàn tay trái, nên cánh tay phải của anh chỉ có tác dụng như chỗ máng găng tay khi anh thực hiện cú ném bóng. Tôi được xem Jim Abbott chơi bóng trong dịp đến thăm cha mình ở Canada, và tôi nhớ như in mình đã bị mê hoặc như thế nào khi nhìn thấy cách anh làm chủ khu vực trung tâm trong vai trò người ném bóng. Một lần, quả bóng bay về phía anh, và với một loạt các động tác cực nhanh và thuần thục, anh chụp lấy quả bóng, tuột găng, ném quả bóng đến chốt gôn thứ nhất để loại người  đánh bóng. Mỗi khi ném bóng xong, anh lại mang găng vào bàn tay trái để tiếp tục bắt bóng, tốc độ nhanh đến khó tin, chỉ mất một hoặc hai giây sau khi ném bóng đi, anh đã sẵn sàng để bắt quả bóng tiếp theo nếu nó bay về phía mình. Thỉnh thoảng, có những đội bóng không biết làm thế nào tốt hơn nên thử bắt chước cách anh làm, nhưng thiệt thòi luôn đứng về phía họ vì Abbott có thể khéo léo đeo và tháo chiếc găng ở bàn tay trái chỉ trong chớp mắt và những cú ném của anh cực kỳ chính xác.

Jim Abbott là một trong số ít cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp chưa bao giờ trải qua một giải bán chuyên nào. Anh được các chuyên gia tìm kiếm tài năng chú ý từ khi còn là một cầu thủ bóng chày nghiệp dư. Anh giành được giải Sullivan với danh hiệu Cầu thủ nghiệp dư xuất sắc nhất tại Hoa Kỳ và giải thưởng Cây gậy vàng do Liên đoàn bóng chày Hoa Kỳ trao cho cầu thủ nghiệp dư xuất sắc nhất trên toàn quốc. Năm 1988, anh đưa Hoa Kỳ giành chiến thắng trước Nhật Bản với tỉ số chung cuộc là 5-3 và đoạt huy chương vàng trong giải bóng chày Thế vận hội Olympics. Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ giành được huy chương vàng trong môn này.

Trong suốt mười năm từ 1989 đến 1998, Abbott chơi trong giải bóng chày chuyên nghiệp cho bốn đội tuyển khác nhau, và trong thời gian đó, anh đã giành được các giải thưởng và danh hiệu nhiều không đếm xuể. Ngày nay, anh là một diễn giả truyền động lực chuyên nghiệp, được rất nhiều tổ chức mời đến để truyền cho các nhân viên của họ một niềm tin rằng: với một thái độ đúng đắn thì không có gì là không thể.

Chính nhận thức về những gì có thể xảy ra mang đến niềm hy vọng cho tương lai và dẫn dắt con người tìm ra mặt phải. 

Phần 2 – Chương 13
Đánh giá bài viết