Phần 2 – Chương 17

TẬP TRUNG TÂM TRÍ: TÌM KIẾM SỨC MẠNH BÊN TRONG

“Dù đang giữa mùa đông, nhưng cuối cùng tôi cũng nhận ra trong lòng mình một mùa hè bất tận.” – Albert Camus

CẢNH DIỄN RA vào năm 1964. Một cậu bé chỉ mới bảy tuổi ngồi trước màn hình tivi đen trắng, mê mẩn xem một chương trình truyền hình thú vị nhất mà cậu từng được xem. Chương trình có tên là Maverick và diễn viên ngôi sao James Garner đóng vai người hùng, một gã cao bồi chơi bài giỏi hơn bất kỳ tay cờ gian bạc lận nào. Cậu mơ một ngày kia lớn lên sẽ được như Maverick. Cậu sẽ đánh bại tất cả các tay chơi bài trên bàn đấu.

Cảnh chuyển đến năm 2008. Trong thế giới của những tay chơi bài bịp chuyên nghiệp, không kẻ nào dám đụng tới ông. Ông không phải là một ảo thuật gia, nhưng những gì ông làm với bộ bài bình thường gần như là thứ ma thuật thật sự mà bạn tận mắt chứng kiến. Bản thân tôi cũng là một ảo thuật gia nghiệp dư, tôi từng nghe nhiều chuyện về Richard Turner trong những năm qua. Người ta đồn ông có thể chia bài bịp từ trên xuống, từ dưới lên, thậm chí ngay giữa bộ bài ngay trước mặt bạn mà không ai mảy may nghi ngờ. Ông đã khiến cho người hùng Maverick trong ký ức thời thơ ấu của ông trở thành tay chơi nghiệp dư. Richard được ngưỡng mộ lẫn tôn kính trong cộng đồng ảo thuật và được gọi một cách trìu mến là “Ông Bịp”.

Cuối cùng thì tôi đã gặp được Ông Bịp, còn được biết đến với tên Richard Turner, vào tháng 2 năm 2008 trong buổi giảng dạy của ông tại Đại học Alicante ở Costa Blanca, Tây Ban Nha. Cùng các khán giả khác, tôi ngồi xem trong sự kinh ngạc khi ông biểu diễn những gì ông có thể làm với một bộ bài. Những gì tôi sắp kể ra đây bạn phải nhìn thấy tận mắt thì mới tin nổi. Lúc đó, ông nhờ một vị khán giả xáo bài rồi đưa lại cho ông. Sau đó ông đề nghị một vị khán giả khác tưởng tượng rằng mình đang ngồi sòng xì phé (poker) cùng bốn người khác trong một ván năm tay chơi. Ông nói, “Tôi là người chia bài. Anh muốn tay chơi nào chiến thắng? Người số một, hai, ba, bốn hay năm?” Vị khán giả hơi lúng túng và hoài nghi, như tất cả chúng tôi. Ông ấy trả lời, “Người số bốn.” Nhưng làm thế nào Richard có thể chia bộ bài mới xáo thành năm tụ nhưng phải đảm bảo tay chơi thứ tư được khán giả chỉ định sẽ thắng?

Không chần chừ, Richard nhanh chóng chia bài thành năm tụ, mỗi tụ năm lá và lật các tụ lên, từng tụ một. Từ tụ một đến ba không có gì hơn ngoài một vài đôi nhỏ, tụ năm hoàn toàn không có gì, nhưng khi tụ bốn được lật lên, một bộ cù lũ (full house) hiện ra trước sự kinh ngạc và khó tin của tất cả người xem.

Mọi người trong khán phòng đều là ảo thuật gia, nhưng không một ai đoán nổi bằng cách nào mà Richard  thực hiện được mánh khóe đó. Không ai tin được những gì diễn ra trước mắt mình. Tôi đã tự tay kiểm tra các lá bài và không phát hiện điều gì khác thường, rõ ràng đây là các quân bài chuẩn hiệu Bee được dùng trong các sòng bài trên khắp thế giới. Trước khi chúng tôi có thời gian suy ngẫm về những gì vừa diễn ra, Richard lại tiếp tục với những màn biểu diễn khác xuất sắc không kém. Tất cả những ai từng gặp Richard và chứng kiến những màn biểu diễn của ông đều phải công nhận ông không có đối thủ trong thế giới chơi bài bịp. Nhưng, điều làm cho màn biểu diễn của Richard càng đặc sắc hơn nữa, nằm ở việc ông bị mù!

Sau buổi giảng, tôi gặp riêng Richard. Ông là một người đàn ông khiêm tốn, lịch lãm, cao 1.73m và có thân hình cân đối. Ông có mái tóc vàng, cặp mắt xanh thẳm cùng bộ râu quai nón và râu mép được cắt tỉa gọn  gàng. Ông rất có phong thái của một tay chơi bài bịp trong trang phục comple đen, áo sơ mi được ủi cẩn thận và chiếc cà vạt bolo. Ngoài chiếc cà vạt đặc trưng vùng Bắc Mỹ thì không có gì đặc biệt trong diện mạo của ông. Nhưng khi trò chuyện, tôi nhanh chóng nhận ra Richard khác xa người bình thường.

Richard kể ông bị mất thị lực khi mới lên chín tuổi. Chuyện xảy ra khá đột ngột; một ngày nọ, ông phát hiện mình không thể nhìn thấy bảng đen ở trường. Không lâu sau, ông được chẩn đoán bị “viêm màng trạch võng mạc” (birdshot retinochoroidopathy). Ngày nay bệnh này có thể chữa được, với điều kiện phát hiện sớm. Nhưng vào những năm 1960, chưa có phương pháp điều trị nào. Bệnh của ông khi ấy là chứng nan y, và ngày qua ngày, nó khiến Richard bị mù.

Mới tuổi thiếu niên, tầm nhìn của Richard chỉ còn 1/20. Có nghĩa là Richard chỉ có thể thấy một vật ở khoảng cách 1m trong khi người có thị lực bình thường có thể nhìn thấy vật đó từ khoảng cách 20m, gấp đôi ngưỡng “mù”. Đến tuổi 30, Richard vẫn có thể cầm một lá bài đưa sát lên mắt và phân biệt được các lá bài chữ (Jack – Bồi, Queen – Đầm, King – Già) trong số những lá còn lại, và ông có thể lấy ra quân Ách vì các lá bài này hiện ra một mảng trắng mờ lớn. Nhưng giờ đây thị lực của ông tệ đến mức ông không biết lá bài nằm sấp hay ngửa.

Nhưng Richard không bao giờ xem giới hạn về thị lực là tật nguyền. Trên thực tế, lạ một điều, ông xem điều đó như một “món quà”! Khi tôi muốn ông giải thích rõ hơn, ông nói rằng ngẫm nghĩ lại thì tật khiếm thị có lẽ là điều tốt lành nhất xảy đến với ông. Lấy ví dụ, tật khiếm thị đã buộc xúc giác của ông phát triển đến mức ông có thể thực hiện được những thủ thuật vừa rồi. Một lý do khiến ông thao tác khéo léo với những lá bài như đã biểu diễn là vì ông cảm nhận chúng theo sức nặng; những lá bài chữ có nhiều mực hơn vì vậy nó nặng hơn một chút so với các lá bài số. Đối với chúng ta thì khác biệt này quá nhỏ không thể nhận ra, nhưng nhờ Richard có một xúc giác cực kỳ phát triển, ông có thể phân biệt được các lá bài chữ với những lá bài số.

Phòng nghiên cứu và phát triển của công ty Playing Card Hoa Kỳ, nhà sản xuất bài lớn nhất thế giới, thường hay gửi các lá bài tới Richard để ông “phân tích”. Vị trưởng phòng tiết lộ rằng ông đã thử đánh lừa Richard một vài lần bằng cách gửi cho ông các lá bài cũ trong kho lẫn với các lá bài mới sản xuất, nhưng Richard luôn nhận ra được sự khác biệt.

Richard Turner là một trong những người có thể làm xuất sắc bất cứ điều gì mà ông quyết tâm thực hiện. Ông đã luyện tập võ thuật hơn 35 năm và đã tham gia vào hàng trăm trận đấu võ, ta có thể thấy vài trận trong đĩa DVD của ông. Làm thế nào mà một người bị mù có thể tỉ thí võ nghệ với những đối thủ sáng mắt? Câu trả lời của Richard Turner là “cẩn trọng!” Tại thời điểm Richard thi đấu, dù ông không thấy những vật thể trực tiếp trước mắt, nhưng ông vẫn còn tầm nhìn ngoại vi giới hạn. Nhưng Richard buộc cơ thể mình “nhìn” bằng tâm trí. Điều này nghe có vẻ cường điệu nếu chúng ta chưa từng gặp Ben Underwood (một người cũng học võ Ka-ra-tê) và hiểu được công trình nghiên cứu của Paul Bach-y-rita trong những chương trước. Rất khó để biết được Richard bị mù khi xem ông tập luyện tại một võ đường (có thể tham khảo trong đĩa DVD của ông).

Cũng như nhiều người khác tìm được mặt phải trong cuộc sống, Richard luôn hướng đến điều tích cực trong tất cả những trải nghiệm của mình. Ông nói rằng từ nhiều khía cạnh, tật khiếm thị của ông là một lợi thế khi ông biểu diễn với những lá bài. Nó khiến ông không bị phân tâm bởi bất cứ việc gì đang xảy ra xung quanh, dù là chiếc tivi ở nhà hay những gì đang diễn ra bên ngoài xe hơi, xe lửa khi ông đi xa. Do đó ông luôn có thể luyện tập mà không bị xao lãng. Richard nói rằng khả năng tập trung hoàn toàn vào bất cứ việc gì của ông góp phần lớn vào những thành tựu ông gặt hái được và giúp ông trở thành con người hôm nay.

Tuy nhiên, một đặc điểm mà Richard Turner có thừa chính là điều đã giúp nhiều người tìm thấy mặt phải ngay trong nghịch cảnh khốn cùng nhất. Đó là sự kết hợp giữa tính kỷ luật, sức mạnh tinh thần và quyết tâm để thành công. Đó là sự cương quyết không lùi bước trước bất cứ việc gì hay bất cứ ai, đó là khả năng đương đầu với mọi thử thách, bởi ông hiểu rằng mọi việc xảy ra trong cuộc sống đều ẩn chứa tiềm năng giúp chúng ta phát triển ở bên trong và trở thành con người tốt nhất có thể.

SỰ TẬP TRUNG NỘI TẠI

Richard Turner tin rằng tật khiếm thị của ông mang theo một món quà, không chỉ bởi những thử thách mà nếu không bị mù lòa thì ông sẽ không có cơ hội chinh phục, mà bởi nó giúp ông tập trung hoàn toàn vào những việc mà ông thực hiện trong cuộc sống. Nói như vậy không có nghĩa là ông tin rằng bị mù tốt hơn là sáng mắt. Sâu xa hơn, điều đó có nghĩa là tự bản năng ông học được cách tìm kiếm mặt phải, một điều gì đó tích cực và khẳng định cuộc sống trong tất cả những trải nghiệm của mình. Như nhiều nhân vật khác ta gặp trong quyển sách này, Richard đã học được cách chuyển hóa ý nghĩa của điều mà người khác cho là khiếm khuyết, và chi tập trung vào mặt tích cực – mặt phải – trong những trải nghiệm của mình.

Vào ngày 19 tháng 1 năm 2008, bản tin KFox tường thuật về một buổi hội thảo cuối tuần ở El Paso, bang Texas, do một người có tên là Miguel Valdez tổ chức. Tương tự như Richard Turner, Valdez là một võ sĩ đai đen cấp năm và anh cũng gần như bị mù. Anh nói, “Tôi không thể lái xe. Tôi không thể đọc nếu chữ không được phóng to hết mức, và tôi không thể nhận diện khuôn mặt.” Anh điều hành trường võ thuật của riêng mình tại El Paso, nhưng vào kỳ cuối tuần đó, anh không đến để thuyết giảng về môn võ Ka-ra-tê. Anh đến để nói chuyện với một nhóm trẻ em khuyết tật, nhắc nhở các em rằng bất cứ chướng ngại nào mà các em đối mặt trong đời, dù to lớn hay dường như không thể vượt qua, nếu các em luôn tìm kiếm mặt tích cực trong những trải nghiệm, thì các em sẽ đạt được ước mơ của  mình.

Valdez nói rằng, “Thông điệp của tôi gửi đến những em nhỏ này không tập trung vào những giới hạn của các em, mà tập trung vào khả năng, tài sản và ưu điểm của chúng.” Buổi hội thảo là một phần của chương trình “Training Tomorrow’s Mentors Today” (Đào Tạo Những Người Thầy Tương Lai Từ Hôm Nay), chương trình nhắm đến việc truyền động lực cho những người khuyết tật. Điều phối viên chương trình, cô Lucila Lozano nói rằng đó là một thông điệp quan trọng cho bọn trẻ. Theo cô thì “Nhiều người lớn có thể khiến các em nghĩ rằng mình không làm được việc gì. Trừ khi chúng ta noi gương những người tích cực trong cuộc sống, bằng không chúng ta chẳng bao giờ tin mình có thể đạt được những mục tiêu đặt ra.”

ĐI TÌM NGHỊ LỰC BÊN TRONG

“Khi bạn cảm thấy mình đang đối diện với một trở ngại không thể vượt qua, tôi muốn bạn hãy nghĩ về tôi. Rồi hãy tự nói với chính mình: “Nếu anh ấy có thể thành công, tôi cũng có thể – W. Mitchell

Tại thành phố San Francisco, ngày 19 tháng 6 năm 1971, chàng thanh niên 28 tuổi W.Mitchell đang ở trên đỉnh cao thế giới. Buổi sáng hôm đó là lần đầu tiên anh tự mình lái máy bay. Ngày hôm trước anh vừa sắm một chiếc xe môtô mới cáu và hôm nay anh lái chiếc xe đó đến nơi làm việc. Nhưng cuộc sống thật khó  lường, và bất ngờ đã xảy ra với W.Mitchell ngay chiều hôm ấy. Việc anh sống sót vào cuối ngày được xem là một phép mầu, nhưng việc anh tìm được mặt phải của bi kịch và đi đến hạnh phúc, thành công thì – đối với nhiều người – là một điều huyền bí.

Khi Mitchell điều khiển chiếc xe môtô đến gần giao lộ đường số 26 và đường South Van Ness thì một chiếc xe giặt ủi lưu động phóng ra trước mặt anh. Hai chiếc xe đâm sầm vào nhau, chiếc xe máy trượt dài trên đường, đè dập khuỷu tay và xương chậu anh, sau đó nắp bình xăng văng ra. Sức nóng động cơ khiến bình xăng bắt lửa, và trong tích tắc, Mitchell bốc cháy phừng phừng. “Tôi trở thành một ngọn đuốc sống,” anh hồi tưởng lại. Nếu không nhờ người nhân viên làm việc ở bãi xe gần đó phát hiện thì chắc anh không sống nổi. Người nhân viên đó vội vã chạy tới và dập tắt ngọn lửa trên người Mitchell bằng một bình chữa cháy. Khi ngọn lửa cuối cùng được dập tắt, 65% cơ thể anh đã bị phỏng nặng. Nhờ có nón bảo hiểm nên phần lớn da đầu anh không bị tổn thương và chiếc áo khoác da cũng phần nào bảo vệ được cơ thể anh. Nhưng mặt, cánh tay và hai chân của anh đã bị nướng chín. Hai bàn tay anh cháy đen thành than, hai chân anh đỏ quạch và chín tái. Mitchell bất tỉnh trong suốt hai tuần. Cuối cùng khi tỉnh lại, anh phải chịu đựng sự đau đớn cực độ, và đối diện với một tương lai nghiệt ngã.

W. Mitchell phải chịu 13 lần truyền máu, 16 ca phẫu thuật ghép da và nhiều phẫu thuật khác trong suốt bốn tháng trước khi được cho về nhà. Sau khi xuất viện, anh nhớ lại mình đã “mất rất nhiều thời gian tìm cách làm những việc thường ngày”. Anh phải học lại cách tự làm mọi việc cho bản thân. Anh nói, “Tôi không thể cầm nổi cái nĩa, thay quần áo, đi vệ sinh, bấm số điện thoại mà không cần sự giúp đỡ.” Nhưng W. Mitchell không phải là người dễ dàng bỏ cuộc. Anh cố gắng làm mọi thứ và sáu tháng sau khi gặp nạn, anh đã bay trở lại.

Phải có lòng dũng cảm to lớn và sức mạnh phi thường mới có thể vượt qua được chấn thương, nhưng việc vượt qua hai bi kịch khủng khiếp đòi hỏi nhiều hơn thế. Bốn năm sau vụ tai nạn xe máy, W. Mitchell bị rơi máy bay; anh là người duy nhất trên máy bay không thể bước ra khỏi đống đổ nát. Chấn động của vụ rơi máy bay đã làm dập nát tủy sống của anh đến mức không thể cứu chữa. Anh bị liệt cả hai chân.

Mitchell thú nhận mình đã sống những tháng ngày đen tối. Anh nói, “Tôi tự hỏi chuyện quái quỷ gì đã xảy ra với mình, tôi đã làm điều gì nên tội mà phải hứng chịu như vậy?” Nhưng về cơ bản, Mitchell vẫn là một người cực kỳ lạc quan và sống với thái độ “Tôi có thể”. Anh nhớ lại lần gặp gỡ một bệnh nhân khác tại phòng vật lý trị liệu của bệnh viện, một chàng trai trẻ cũng bị liệt. Mitchell kể, “Cậu ấy từng là một nhà leo núi, một vận động viên trượt tuyết, một người năng hoạt động ngoài trời, và cậu ấy cho rằng cuộc đời cậu đến thế là hết.” Mitchell đã đưa ra một lý do khiến cậu ấy phải suy nghĩ lại. “Trước khi tất cả những điều này xảy ra với tôi, tôi có thể làm được 10.000 thứ. Bây giờ con số đó là 9.000. Tôi có thể dùng phần đời còn lại của mình để than khóc cho 1.000 thứ mà tôi đánh mất, nhưng tôi chọn tập trung vào 9.000 điều còn lại.”

Điều W. Mitchell tiếp tục gặt hái được sau hai vụ tai nạn, xét ở bất cứ góc độ nào, cũng thật đáng kinh ngạc. Sau vụ tai nạn xe máy, anh cùng một số người khác đồng sáng lập Vermont Castings, một công ty trị giá 65 triệu đô chuyên sản xuất lò đốt củi và tuyển dụng hàng ngàn người. Sau đó anh trở thành thị trưởng của Created Butte ở bang Colorado và giữ vị trí này suốt hai nhiệm kỳ. Trong suốt thời gian tại chức, Mitchell đã dùng số tiền 120.000 đô của riêng anh trong chiến dịch cứu lấy một ngọn núi gần đó khỏi sự khai thác cạn kiệt của một số công ty. Anh là một triệu phú tay trắng làm nên, một phi công dân dụng có trình độ chuyên môn, một nhân vật nổi tiếng, và là một nhà văn. Mitchell còn là một nhà môi trường năng nổ và là thành viên trong hội đồng quản trị của Hiệp Hội Bảo Tồn Vườn Quốc Gia và Rừng Hoang Dã Hoa Kỳ. Anh là một diễn giả được tôn vinh (giữ chức Chủ tịch Liên Đoàn Diễn Giả Quốc Tế, nhiệm kỳ 2008-2009), anh bay lượn trên bầu trời và rất thích lái bè lên thác xuống ghềnh.

Cuộc đời của W. Mitchell là minh chứng cho mức độ phong phú của cuộc sống khi người ta tìm ra mặt phải của nghịch cảnh. Điều anh đam mê nhất là nâng đỡ tinh thần người khác để họ xem trở ngại như một xuất phát điểm và nếu anh có thể thành công thì bất kỳ ai cũng có thể thành công. Anh viết trên trang web cá nhân rằng, “Tôi hy vọng mình sẽ là một ví dụ cho tất cả mọi người, là con đường dẫn đến những lối suy nghĩ mới. Những biểu tượng luôn có sức thuyết phục mạnh mẽ. Tại Mỹ, chiếc chuông Tự Do tượng trưng cho khái niệm độc lập chỉ bằng một hình ảnh đơn giản. Tại Ấn Độ, cung điện Taj Mahal thể hiện tình yêu sâu đậm, nồng nàn của con người. Tại San Francisco, quê hương yêu dấu của tôi, cây cầu Golden Gate là sự khẳng định cho kỹ thuật điêu luyện gây được tiếng vang lớn… Điều tôi muốn chính là trở thành một biểu tượng cho bạn. Với khuôn mặt chằng chịt sẹo, bàn chân không có ngón, cùng chiếc xe lăn – và niềm hạnh phúc thuần khiết, chân thật trong trái tim – tôi muốn trở thành hình ảnh trong tâm tưởng bạn về sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua được nghịch cảnh.”

Khi nhìn lại cuộc đời mình sau các tai nạn, Mitchell tin rằng có hai điều chính giúp anh vượt qua tất cả. Một là tình yêu và sự hỗ trợ từ phía gia đình và bạn bè, điều còn lại là triết lý cá nhân anh đối với cuộc sống. Anh là người cực kỳ lạc quan, anh tập trung vào những khả năng của mình hơn là than khóc về những gì mình không làm được. Anh theo đuổi những mục tiêu cụ thể, cả trong kinh doanh lẫn trong cuộc sống riêng, và anh đã làm cho cuộc đời mình có ý nghĩa, không chỉ cho riêng anh, mà còn cho tất cả những người anh gặp. Anh thích giúp đỡ và truyền cảm hứng cho người khác. Trong những bài diễn thuyết của mình, anh luôn nhấn mạnh một điều cốt lõi với người nghe, tóm tắt trong một câu mà anh chọn làm tựa đề cho quyển sách của mình: “Quan trọng không phải là điều xảy đến với bạn, mà chính là bạn sẽ làm gì với nó.”

Ngẫm nghĩ về quá khứ của mình, anh tin rằng tai nạn đã đem lại cho anh nhiều lợi ích. “Tôi may mắn có cơ hội học hỏi được nhiều thứ trong suốt quá trình đó – cả trước quá trình đó – cả trước và sau khi tai nạn xảy ra – những điều đã giúp tôi nhiều không kể xiết.” Qua những trải nghiệm, anh nói mình có một “cuộc sống tuyệt vời”, và anh hy vọng câu chuyện bản thân anh sẽ nhắc nhở những người khác rằng ngay cả trong nghịch cảnh cùng cực, họ vẫn có thể tận hưởng một cuộc sống tươi đẹp. Nhưng lời bình luận được Mitchell nói đến nhiều nhất chính là giá trị anh rút ra từ những trải nghiệm của chính  mình, “Tôi có muốn đánh đổi những gì mình học được hay không ư?”, câu trả lời của anh là “Không đời nào!”

W. Mitchell đã phải vượt qua hai cuộc khủng hoảng lớn nhưng anh rất kiên cường và tin rằng những gì anh có thể gặt hái được thì mọi người ai cũng có thể. Anh nói, “Tôi không có sức mạnh siêu nhiên, hay bất kỳ phép thần thông nào giúp tôi tạo dựng hạnh phúc khi đối mặt với những thử thách khủng khiếp. Tôi cũng chẳng mạnh mẽ hơn hay thông minh hơn người bình thường. Và còn lâu tôi mới trở thành một “bậc thánh nhân”… Tất cả chúng ta đều được ban tặng một sức mạnh thần kỳ đang ngủ quên đâu đó trong con người chúng ta. Chỉ vì đa số mọi người chưa có cơ hội sử dụng sức mạnh đó nhiều như tôi mà thôi”.

Phần 2 – Chương 17
Đánh giá bài viết