Phần 2 – Chương 9

TƯ DUY CỦA DOANH NHÂN: LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG CƠ HỘI TIỀM ẦN

‘‘Những doanh nhân như chúng tôi nhìn đâu cũng thấy cơ hội trong khi nhiều người khác chỉ thấy toàn khó khăn.” – Michael Gerber

OKLAHOMA, nước Mỹ, năm 1936: đồng sở hữu Sylvan Goldman của chuỗi siêu thị Humpty Dumpty đang làm việc muộn trong văn phòng của mình. Nhìn chằm chằm vào chiếc ghế trước mặt, tâm trí ông mải mê tập trung vào một vấn đề nan giải. Như tất cả các doanh nhân từ trước đến nay, Goldman cần tăng doanh số. Các siêu thị phụ thuộc vào số lượng, sự xoay vòng hàng hóa giá rẻ nhanh chóng để tối đa hóa lợi nhuận. Nếu muốn đạt được điều này, hoặc là họ tìm cách gia tăng số lượng khách hàng đến mua, hoặc là làm tăng số lượng sản phẩm mỗi khách hàng mua. Goldman tập trung vào phương án thứ hai vì đó là vấn đề hiện ông đang gặp phải.

Goldman biết rằng khách hàng thích mua nhiều đồ tại chuỗi siêu thị của ông, và ông cũng nhận thấy họ muốn mua những món hàng đắt tiền hơn, to hơn và nặng hơn. Nhưng vấn đề ở đây là: khách hàng chỉ có thể xách được một lượng hàng hóa nhất định bằng chiếc giỏ mây mà siêu thị cung cấp. Đây còn là vấn đề mà các đối thủ kinh doanh của ông gặp phải, và đây cũng là lý do mà Goldman ở lại văn phòng làm việc muộn. Ông quyết tâm giải quyết cho bằng được vấn đề này vì ông hiểu một điều mà người khác không hiểu: đây chính là cơ hội tuyệt vời.

Goldman đã từng gặp nhiều vấn đề trước đây. Năm 1921 ông và người em trai bị phá sản khi giá dầu trượt dốc liên tục. Cả hai sau đó chuyển hướng sang bán lẻ và đến bang California để học các phương pháp mới trong kinh doanh tạp hóa. Họ nhìn thấy tương lai xán lạn của ngành này. Goldman lưu ý, “Cái hay của thực phẩm là mọi người đều dùng – và chỉ dùng đúng một lần.” Dưới nhiều góc độ, đây là một ngành nghề kinh doanh hoàn hảo; ai cũng phải ăn, và các hàng tiêu dùng có doanh số bán ra liên tục.

Cả hai anh em trở về từ California với nhiệt huyết tràn đầy, họ mở một chuỗi cửa hiệu tạp hóa tự phục vụ. Vài năm sau, họ bán lại chuỗi cửa hiệu này cho Safeway, nhưng thành công của họ cũng chỉ được một thời gian ngắn. Phần lớn lợi nhuận của họ nằm dưới dạng cổ phần của Safeway, và giá trị của những cổ phần này hoàn toàn tiêu tan sau cuộc Đại Khủng hoảng ập xuống nước Mỹ vào tháng 10 năm 1929. Hơn 10 tỷ đô đã bị phủi sạch trên Sàn Chứng khoán New York. Nhiều người, trong đó có Goldman, đã mất tất cả. Nhưng, trong khi những người khác rơi vào trầm cảm, thậm chí nhảy lầu tự tử thì Sylvan Goldman vẫn không chịu khuất phục vì ông hiểu rằng, ngay cả trong khủng hoảng, vẫn còn một mặt phải ở đâu đó.

Bị kiệt quệ về tài chính, chỉ còn tài sản duy nhất là kinh nghiệm thương trường, anh em nhà Goldman tiếp tục quay trở lại ngành kinh doanh tạp phẩm, và đến năm 1936 họ đã có được một nửa chuỗi siêu thị Humpty Dumpty. Đáng nói hơn, họ đã khám phá được cơ hội thay đổi hoàn toàn cuộc sống của mình và tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành kinh doanh siêu thị. Cũng như Harland Sanders phải mất hết tất cả mới tạo ra đế chế KFC, nếu không có cuộc Đại Khủng hoảng thì liệu Sylvan Goldman có quay lại ngành kinh doanh tạp phẩm hay không. Và nếu ông không tiếp tục kinh doanh tạp phẩm thì ông không cách gì biết được đó lại là thành quả to lớn nhất của ông.

Một ý tưởng lóe lên trong tâm trí Goldman khi ông ngồi một mình trong văn phòng vào tối năm 1936, đắn đo suy nghĩ về một vấn đề đã khiến ông bất an khá lâu. Ông có thể làm gì để tạo điều kiện cho khách hàng mua được nhiều đồ hơn sức chứa của một chiếc giỏ mây? Câu trả lời xuất hiện trong lúc ông ngồi thẫn thờ ngồi nhìn chiếc ghế xếp bằng gỗ. Ông trầm ngâm suy nghĩ về một khả năng – lắp bánh xe vào bốn chân ghế, thay giỏ hàng vào vị trí mặt ghế, thay khung gỗ bằng kim loại… và ý tưởng xe đẩy mua sắm ra đời. Goldman tiếp tục triển khai ý tưởng  đó cùng một người bạn, một kỹ sư tên là Fred Young, và một năm sau, cả hai sáng chế ra chiếc xe đẩy mua sắm đầu tiên của thế giới gồm có một khung kim loại đỡ được hai chiếc giỏ sắt. Phần khung được thiết kế để có thể xếp lại và hai chiếc giỏ được chồng lên nhau, về cơ bản, đó là một bộ khung sắt với tay cầm và bánh xe. Khách hàng có thể đặt giỏ lên xe đẩy và xách giỏ ra lúc thanh toán. Vì ý tưởng này bắt nguồn từ một chiếc ghế xếp, Goldman đã gọi chiếc xe đẩy của mình là “xe xếp chở hàng” và lập ra công ty Xe xếp Chở Hàng.

Ban đầu, khách hàng không muốn dùng xe đẩy. Những chàng trai trẻ nghĩ rằng chiếc xe đẩy làm họ trông yếu đuối, những cô gái trẻ thì cảm thấy không hợp thời trang còn người lớn tuổi thì sợ chiếc xe đẩy khiến họ trông như những người cần được giúp đỡ. Tuy vậy, Goldman hiểu khó khăn lớn nhất cũng chính là cơ hội lớn nhất. Nếu ông có thể vượt qua mối bận tâm về dáng vẻ bên ngoài thì chiếc xe đẩy mua sắm của ông sẽ là một cuộc cách mạng trong ngành kinh doanh bán lẻ. Thay đổi nhận thức của khách hàng về chiếc xe đẩy xem ra lại tương đối đơn giản. Goldman thuê nhiều người làm mẫu ở tất cả mọi lứa tuổi, cả nam và nữ, đẩy xe khắp siêu thị, giả vờ như họ đang mua sắm. Thêm vào đó, ông cũng cho những nhân viên duyên dáng đứng chào khách trước cổng vào của mỗi siêu thị để khuyến khích khách hàng dùng xe đẩy. Cả hai chiến thuật trên đã mang lại hiệu quả. Một năm sau, Goldman và Young nhận văn bằng sáng chế cho phát minh của mình, và đến những năm 1940, xe đẩy mua sắm xuất hiện ở khắp các siêu thị trên nước Mỹ. Trên thực tế, hầu hết các siêu thị đã thiết kế lại hoàn toàn từ cổng vào, lối đi giữa các gian hàng, quầy thu tiền đến lối ra cho phù hợp với việc sử dụng xe đẩy.

Sylvan Goldman đã làm thay đổi bộ mặt của các siêu thị trên toàn thế giới và điều này đã giúp cả ông lẫn Fred Young trở thành triệu phú. Thành công của ông, như hầu hết các thành công khác, đều bắt nguồn từ những cơ hội tiềm ẩn trong khó khăn.

MỘT CÁCH NHÌN KHÁC

“Một số người nhìn thấy những thứ có sẵn và hỏi tại sao – Còn tôi mơ về những thứ chưa bao giờ có và hỏi tại sao không. ” – George Benard Shaw

Thành đạt của Sylvan Goldman là kết quả của lối tư duy rất khác biệt. Đó là cách suy nghĩ chung của những nhà đầu tư và doanh nhân, những người nhìn khó khăn không như những chướng ngại vật, mà như những cơ hội. Tất cả các sáng chế và đổi mới mà ta sẽ gặp trong suốt quyển sách này là kết quả của việc đương đầu với khó khăn. Đó là lý do tại sao các nhà đầu tư và doanh nhân  chào đón những khó khăn thay vì tìm cách tránh né chúng như những người khác thường làm. Họ trở nên hào hứng hơn là thất vọng trước những khó khăn, bởi vì họ biết rằng mọi vấn đề dù lớn hay nhỏ đều tiềm ẩn một cơ hội, và vấn đề càng nghiêm trọng thì cơ hội càng to lớn.

Một người khác tên là Louis gặp phải khó khăn còn nghiêm trọng hơn rất nhiều so với Goldman. Louis bị mù. Đó là năm 1814, Louis chỉ mới 4 tuổi. Một năm trước đó, một tai nạn xảy ra ở xưởng chế tác yên cương ngựa của cha cậu đã khiến cậu bé mất đi thị lực mắt trái, và không bao lâu sau thì Louis mù cả hai mắt do chứng viêm thần kinh thị giác, một hiện tượng thường gặp trong đó cả hai mắt đều bị viêm sau khi một bên mắt bị tổn thương. Louis đối diện với viễn cảnh phải sống trong bóng tối đến hết cuộc đời mình.

Năm mười tuổi, Louis được gửi đến học tại Học viện Hoàng gia dành cho thanh niên khiếm thị ở Paris, Pháp. Trong những năm đầu thế kỷ 19, người ta thường chấp nhận rằng người mù sẽ không bao giờ biết đọc hay viết, và do đó học viện dạy cho học sinh những kỹ năng thủ công cơ bản và cách kiếm sống đơn giản. Nhà trường cũng dạy học sinh cách cảm nhận chữ nổi, một hệ thống được thiết kế bởi Valentin Haüy, người sáng lập trường. Tuy nhiên, bộ chữ này rất cồng kềnh và khó sử dụng. Louis tin rằng phải có một hệ thống tốt hơn và đặt ra mục tiêu phát triển hệ thống như thế.

Louis là một học sinh thông minh và sáng tạo, anh còn là một tay chơi đàn cello và organ tài năng trong thời gian học ở học viện. Anh từng biểu diễn organ cho nhiều nhà thờ trên khắp nước Pháp. Tuy vậy, mục tiêu chính của anh là ước mơ phát triển một hệ thống chữ tốt hơn để người mù có thể đọc và viết. Từ năm mười hai tuổi, anh đã thử viết quy tắc, anh dùng kim đan len đâm nhiều lỗ trên giấy đại diện cho các chữ cái, và đến năm mười lăm tuổi, anh đã phát triển một hệ thống tài tình dành cho người khiếm thị đọc và viết bằng cách cảm nhận những dấu chấm nổi. Hai năm sau, anh áp dụng phương pháp này vào các ký hiệu âm nhạc. Louis dùng một cụm sáu dấu chấm nổi kết hợp theo nhiều hình dạng để miêu tả ký tự, con số, dấu câu và các ký hiệu toán học. Anh chỉ cho bạn cùng lớp phương pháp này và bắt đầu sử dụng nó, bất chấp ban điều hành học viện đã ra quyết định cấm sử dụng phương pháp này.

Chưa đến mười bảy tuổi, Louis đã tốt nghiệp và trở thành trợ giảng tại học viện và hai năm sau, anh được nhận làm giảng viên chính thức. Tuy nhiên, anh vẫn phải lén lút truyền đạt phương pháp của mình cho các học sinh.

Quyển sách đầu tiên sử dụng hệ thống của Louis được xuất bản năm 1827 mang tựa đề Method Of Writing Words, Music, and Plain Songs by Means Of Dots, For Use by the Blind and Arranged for Them (Phương Pháp Dùng Các Dấu Chấm Để Viết Từ Ngữ, Soạn Nhạc, Và Viết Đồng Ca Dành Riêng Cho Người Khiếm Thị). Sau một vài điều chỉnh nhỏ, đến năm 1834 hệ thống này được hoàn chỉnh và sử dụng cho đến ngày nay. Đây là hệ thống chữ viết phổ biến được đặt tên theo họ của Louis – “Braille”.

Năm 1839 Louis Braille xuất bản toàn bộ chi tiết về phương pháp mà anh đã phát triển để giao tiếp với người sáng mắt bằng cách sắp xếp các dấu chấm trên giấy gần giống với hình dáng của các ký hiệu in sẵn. Cùng với người bạn Pierre Foucauit, Louis tiếp tục phát triển một chiếc máy để cải thiện tốc độ cho hệ thống  còn khá cồng kềnh và chậm chạp này.

Louis qua đời năm 1852 ở Paris vì bệnh lao, khi đó anh mới 43 tuổi. Louis chưa bao giờ nhận được sự khen thưởng nào mà anh xứng đáng có được khi còn sống. Mặc dù anh rất được các học sinh ngưỡng mộ và kính trọng, hệ thống Braille của anh chưa bao giờ được học viện đưa vào sử dụng trong suốt quãng đời anh. Và khi anh mất, không một tờ báo nào ở Paris đưa tin về sự ra đi của anh, chứ đừng nói gì đến một lời cáo phó.

Tuy nhiên, sáu năm sau khi anh qua đời, Học viện Hoàng gia dành cho thanh niên khiếm thị chính thức áp dụng phương pháp sáu chấm của Louis, và đến năm 1868 hệ thống chữ nổi sáu chấm của anh đã trở thành hệ thống tiêu chuẩn quốc tế giúp người khiếm thị đọc sách, xem đồng hồ treo tường, xem đồng hồ đeo tay, đọc nhiệt kế, xem bản nhạc và thậm chí bấm nút thang máy.

Năm 1952, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Louis, các báo khắp nơi đã đăng câu chuyện về ông. Chân dung của ông xuất hiện trên các tem bưu chính, và ngôi nhà ông ở giờ là một viện bảo tàng. Để tỏ lòng tôn kính, chính phủ Pháp đã dời mộ ông đến lăng danh nhân Pantheon ở Paris. Ở đó, Louis Braille được an nghỉ cùng những vị anh hùng vĩ đại khác của nước Pháp.

Louis đã cống hiến cả cuộc đời mình cho các học sinh, bạn bè và trên hết là sự hoàn thiện phương pháp chữ nổi cho phép hàng triệu người khiếm thị trên thế giới đọc, viết, và có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngày nay, hệ thống Braille được áp dụng ở hầu hết các quốc gia và là hệ thống viết chữ chính yếu dành cho người khiếm thị trên thế giới. Tên tuổi của Braille sẽ mãi gắn liền với một trong những thiết bị vĩ đại và tiện ích nhất từng được phát minh cho đến ngày nay, và như tất cả các phát minh vĩ đại khác, nó xuất phát từ một người gặp khó khăn trong cuộc sống.

SỬA LỖI

“Những sai lầm mà một người mắc phải là cánh cửa đi đến sự khám phá. ” – James Joyce

Bette Nesmith Graham gặp tất cả những khó khăn mà người ta có thể mường tượng được về một người mẹ đơn thân trong những năm 1950. Để nuôi sống bản thân và đứa con trai Michael, bà làm thư ký cho một ngân hàng và được thăng chức lên Thư ký điều hành, vị trí cao nhất dành cho một người phụ nữ trong ngành ngân hàng lúc bấy giờ. Tuy nhiên, bà Graham gặp phải một vấn đề lớn – bà đánh máy không giỏi lắm, và phải tốn hàng giờ để đánh lại các văn bản lên những tờ giấy mới.

Bà Graham không chỉ là người thư ký duy nhất luôn cảm thấy bực mình vì phải đánh lại toàn bộ văn bản chỉ vì những lỗi đánh máy đơn giản. Không bao lâu sau, bà nhận ra rằng khó khăn lớn nhất của mình lại chính là cơ hội lớn nhất. Ý tưởng đến với bà trong một đêm khi bà đi bộ về nhà sau giờ làm việc. Bà thấy người thợ vẽ quảng cáo sơn đè lên những chỗ sơn lỗi và trong khoảnh khắc, bà nảy ra một sáng kiến. Bà tự nhủ “Nếu những người thợ vẽ đó có thể sơn đè lên những chỗ bị lỗi thì tại sao người đánh máy lại không thể?”

Lợi ích của việc làm trên là quá rõ ràng. Nếu có một cách nào đó giúp người đánh máy “sơn” đè lên những chữ bị lỗi thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được rất nhiều, không chỉ lượng giấy bỏ đi được giảm đáng kể mà quan trọng hơn là thư ký của họ tiết kiệm được khối thời gian cho việc đánh lại toàn bộ văn bản chỉ vì những lỗi nhỏ.

Giải pháp của bà Graham là trộn một vài loại sơn nước vào máy xay sinh tố rồi đánh lên cho đến khi dung dịch này có màu tương tự như màu giấy bà đang dùng. Sau đó, với một cây cọ nhỏ, bà chỉ việc sơn lên chỗ đánh máy lỗi, chờ nó khô rồi gõ chữ lên chỗ sơn. Bà dùng hỗn hợp này trong công sở mà sếp của bà không hề nhận ra. Tuy nhiên, có một vấn đề nhỏ là dung dịch này rất lâu khô. Bà tham vấn một giáo viên dạy khoa học tự nhiên ở trường cấp ba và liên hệ một nhà cung cấp để nhờ cải tiến hỗn hợp (ban đầu bà gọi nó là “Xóa Lỗi”) cho mau khô hơn.

Không lâu sau, các thư ký khác phát hiện ra và xin bà Graham một ít dung dịch. Rồi khi mọi người đã quen dùng, đơn đặt hàng đến tới tấp, bà phải nhờ con trai và bạn bè của nó đổ dung dịch vào những chai nhỏ màu xanh rồi dán nhãn lên. Tuy nhiên, bà sớm phải đối diện với một vấn đề khác: bị ngân hàng sa thải vì đã dùng văn phòng phẩm của công ty để quảng cáo cho loại “Giấy Lỏng” của bà. Khó khăn này, cũng như khó khăn lúc đầu, tiềm ẩn một cơ hội bởi giờ đây bà có thể cống hiến toàn bộ thời gian cho việc tiếp thị và bán phát minh của mình.

Việc kinh doanh trở nên phát đạt và bà Graham mua một xưởng nhỏ riêng cho mình, thuê nhân viên và lắp đặt máy móc để tự động hóa quy trình sản xuất. Năm 1975, Bette Nesmith Graham quyết định bán bản quyền phát minh của mình cho công ty Gillette, vấn đề khiến bà Graham đau đầu nơi công sở 22 năm về trước đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà và mang đến cho bà khoản tiền mặt 25 triệu đô.

TÌM KIẾM CƠ HỘI

“Sự cải tiến là một công cụ đặc thù của doanh nhân, đó là phương tiện giúp họ tìm ra cơ hội từ những đổi thay. ” – Peter F. Drucker

Hàng ngàn chủ siêu thị trên khắp thế giới đều đối mặt với cùng một vấn đề mà Sylvan Goldman gặp phải năm 1936. Vậy thì điều gì đã khiến Goldman tìm ra cơ hội mà hàng ngàn người khác bỏ lỡ? Tương tự, hầu như mọi nhân viên thư ký ở phương Tây vào năm 1946 đều cảm thấy bực bội như Bette Nesmith Graham khi cứ phải đánh máy lại toàn bộ văn bản chỉ vì những sai sót nhỏ. Dù không có lợi thế gì vượt trội nhưng bà Graham đã nhìn thấy cơ hội mà không ai khác nhận ra. Và dĩ nhiên, Louis Braille chỉ là một trong số hàng ngàn trẻ em khiếm thị khác phải phấn đấu để hòa nhập vào thế giới của người sáng mắt, và mặc dù chỉ mới ở tuổi thiếu niên, anh đã phát triển một hệ thống giúp cho người khiếm thị đọc và viết.

Thông thường, những vấn đề chúng ta gặp phải cũng giống như những gì người khác đã từng hoặc đang phải đối mặt, và những cơ hội tiềm ẩn trong mỗi vấn đề vẫn nằm ở đó, chờ cho mọi người khám phá. Việc Sylvan Goldman, Louis Braille và Bette Graham có thể làm nên những điều kỳ diệu, một phần không nhỏ, là do họ tiếp cận vấn đề theo một lối tư duy đặc trưng. Đó là cách suy nghĩ không còn được nhắc đến trong một số trường học, nơi mà nỗi sợ thất bại và nỗi sợ bị từ chối đã dẫn đến những nguyên tắc không được cạnh tranh. Lối tư duy này còn bị những người quen nếp đổ lỗi cho hoàn cảnh chế giễu và phớt lờ. Nhưng nếu không có nó, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy mặt phải. Đó là lối tư duy của những doanh nhân.

Một lần Ted Turner buông lời châm biếm: “Con trai tôi giờ là một “doanh nhân””. Đó là cách người ta gọi những kẻ không có công ăn việc làm. Dĩ nhiên, ông ấy đúng. Hầu hết những người đứng ra lập nghiệp đều không có công ăn việc làm. Thường họ tạo ra việc làm, nhưng họ lại không có việc vì lối suy nghĩ của doanh nhân hoàn toàn khác với lối suy nghĩ của người làm công ăn lương. Doanh nhân thích kiểm soát vận mệnh, và họ chịu trách nhiệm cho tương lai của họ. Họ là người có tầm nhìn và có ước mơ, cũng giống những nhà phát minh, họ có thể thay đổi thế giới.

Khi Martin Varsavsky sắp tốt nghiệp Đại học Columbia với tấm bằng Thạc sĩ Quản trị kinh doanh vào năm 1984, anh vẫn chưa tìm được công việc nào, trong khi nhiều bạn học khác của anh đã có việc làm. Giờ nhìn lại, anh tin rằng những ngày tháng tìm việc vô vọng đó lại là điều tốt đẹp nhất từng xảy đến với anh và khi xem lý lịch trích ngang của anh, thật khó mà không đồng ý với anh về nhận định này. Trong vòng hai mươi năm sau khi anh tốt nghiệp, Varsavky đã lập ra bảy công ty có lợi nhuận cao, anh nhận được nhiều giải thưởng và bằng danh dự, trong đó có danh hiệu Doanh nhân ngành Viễn Thông Châu Âu của Năm 1998, Doanh nhân Hiệp Hội Viễn Thông Châu Âu của Năm 1999, Nhà Lãnh Đạo Toàn cầu của Tương Lai do Diễn đàn Kinh Tế Thế Giới tại Davos trao tặng vào năm 2000, Doanh Nhân Tây Ban Nha của Năm 2000 và Giải thưởng Pickering từ Đại học Columbia năm 2004.

Varsavsky còn là một diễn giả vui nhộn và dí dỏm. Anh thích kể lại cách anh xin được vốn tài trợ trong dự án kinh doanh đầu tiên. Tại cùng một thời điểm, một ngân hàng từ chối đơn xin việc của anh thì một bộ phận khác cũng của ngân hàng đó chấp thuận cho anh vay 12 triệu đô! Varsavsky nói “Người ta [những người trong bộ phận tuyển dụng] không biết rằng có một nhóm khác đang xem xét đơn vay vốn cho việc kinh doanh đầu tiên của tôi. Và chính những người không cho tôi việc làm 40.000 đô một năm lại cho tôi vay 12 triệu đô… May mắn thay, họ không bao giờ phát hiện ra điều này bởi những ngân hàng như thế rất lớn và nhân viên chẳng bao giờ nói chuyện với nhau!”

Việc bị từ chối đơn xin việc chưa bao giờ thật sự làm Martin Varsavsky lo lắng. Khi được hỏi trong mỗi cuộc phỏng vấn: “Anh nghĩ mình sẽ ở vị trí nào trong 5 năm tới?”, lần nào anh cũng trả lời: “Trở thành sếp của anh!” Nhưng lý do khiến anh không sợ bị từ chối là bởi anh có lối tư duy của một doanh nhân. Anh nói: “Doanh nhân như tôi, rất nhiều lần, không thể xin được việc làm. Chúng tôi không thích hợp… Chúng tôi ghét làm thuê.”

Điều khiến họ trở nên khác biệt với những người xung quanh là họ luôn sống với mặt phải. Họ tìm kiếm cơ hội trong mọi thứ. Khi đài NBC hủy loạt phim truyền hình có tên Baywatch chỉ sau một mùa phát sóng vì chi phí sản xuất cao mà điểm xếp hạng lại thấp, David Hasselhoff, một trong những ngôi sao của phim đã nhìn ra cơ hội. Loạt phim xoay quanh câu chuyện về một đội cứu hộ vùng biển Los Angeles, bang California. Hasselhoff có linh cảm về tiềm năng to lớn của chương trình này. Anh quyết định làm sống lại bộ phim, đầu tư sản xuất bằng tiền riêng của mình để tiếp nối loạt phim đầu tiên. Loạt phim thứ hai đã chứng minh linh cảm của Hasselhoff là chính xác. Chương trình được chiếu đi chiếu lại trong suốt mười năm tiếp theo, và theo Sách Kỷ lục Guiness, Baywatch trở thành bộ phim truyền hình được xem nhiều nhất trong mọi thời đại, có hơn một tỉ người xem. David Hasselhoff nổi tiếng với tài năng diễn xuất của anh, và ở một số nước Châu Âu, người ta còn biết đến nhạc của anh nữa. Ngoài thành công với loạt phim Baywatch, anh còn là ngôi sao của phim Knight Rider, được chiếu trên đài NBC từ  năm 1982 đến 1986. Hasselhoff đóng vai Michael Knight, một hiệp sĩ thời hiện đại công nghệ cao chiến đấu chống tội phạm với sự hỗ trợ của “chiếc xe biết nói” có trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, ít ai biết rằng David Hasselhoff là một doanh nhân cực kỳ thành đạt.

Có một người đã thay đổi bộ mặt ngành giải trí nước Mỹ, nhiều hơn bất kỳ ai khác, trong thế kỷ hai mươi. Ông được mệnh danh là “nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong nghệ thuật đồ họa, chỉ sau Leonardo Da Vinci”. Trong đời mình, ông đã nhận hơn 950 huân chương và giải thưởng từ nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm 26 giải Oscar, một kỷ lục cho đến ngày nay. Tuy nhiên, thành công ấy lại không hẳn là thành quả của tài năng nghệ thuật của ông (bức vẽ nổi tiếng nhất của ông không phải do ông tạo ra) nhưng đó là kết quả của tài điều hành kinh doanh, cụ thể hơn là khả năng chuyển thất bại thành cơ hội. Tên ông là Walt Disney.

Khi bước vào cánh cổng Vương Quốc Ma Thuật ở Disneyland Florida, đập vào mắt bạn là bức tượng bằng đồng của Walt Disney, một người đàn ông thân thiện có mái tóc đen mượt, bộ ria mép được tỉa tót gọn gàng và tay trong tay với chú chuột Mickey. Đó chắc chắn là chú chuột đáng yêu đã mang lại thành công cho hãng phim hoạt hình Disney. Thật ra chuột Mickey được tạo ra bởi một trong những người bạn cũ, cũng từng là đồng sự của Disney, Ub Iwerks.

Chú chuột Mickey được tạo ra bắt nguồn từ một vụ rắc rối liên quan đến hợp đồng giữa hãng Disney, Winkler Pictures và Universal Studios. Năm 1927, chú thỏ may mắn Oswald, một nhân vật hoạt hình cũng do Iwerks tạo ra, đang có những thành công nhất định tại nhiều nhà hát. Charles Mintz lên nắm quyền hãng Winkler Pictures sau khi kết hôn với Margaret Winkler và cho ra đời một loạt phim mới với nhân vật Oswald. Tuy nhiên, khi Disney đến để thương lượng nâng mức thù lao thì Mintz không đồng ý điều chỉnh, về sau, Disney mới hay Mintz đã âm thầm tuyển dụng phần lớn nhân viên của ông, bởi Mintz biết chính Universal chứ không phải Disney nắm bản quyền nhân vật Oswald, và Mintz đã đẩy Disney vào tình thế khó khăn. Ông ta yêu cầu Disney trở thành nhân viên của mình và chấp nhận khoản thù lao thấp hơn, nếu không ông ta sẽ tự mình sản xuất phim hoạt hình.

Disney giận điên người nhưng quyết không để mình bị chèn ép. Chính sự thất thế này đã dạy ông bài học quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình; ông sẽ luôn nắm bản quyền của tất cả các nhân vật hoạt hình do ông đảm trách. Ông quyết định việc mất đi chú thỏ may mắn Oswald sẽ là cơ hội sáng tạo ra thứ gì khác mới mẻ, thế nên ông nhờ Iwerks tạo ra một nhân vật hoạt hình thay thế. Sau hàng loạt các ý tưởng bao gồm bò cái Clarabelle và ngựa Horace cùng với các nhân vật ếch, chó và mèo, Iwerks đã đi đến ý tưởng về chú chuột Mickey và sau cùng, ngày 18 tháng 11 năm 1928, bộ phim đầu tiên về chú chuột Mickey có tên Steamboat Willie (Tàu Thủy Willie) ra đời. Một vài tập phim phiêu lưu đầu tiên của chuột Mickey do Iwerks dàn dựng từ đầu đến cuối, nhưng sau đó ông và Disney đường ai nấy đi. Được biết Iwerks cảm thấy không vui vì những đòi hỏi khắt khe trong công việc từ phía Disney nhưng lại ít được công nhận. Tuy nhiên, Disney giữ bản quyền nhân vật chuột Mickey và ông thu nhận một đội ngũ họa sĩ mới, trẻ và tài năng để giúp ông phát triển chuột Mickey thành biểu tượng hoạt hình nổi tiếng nhất mọi thời đại, từ trẻ nhỏ đến người lớn trên khắp hành tinh đều biết đến.

Với chuột Mickey, Walt Disney đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt ngành công nghiệp giải trí Bắc Mỹ và gần  như toàn thế giới. Ngày nay, hãng phim Walt Disney có doanh thu hàng năm lên đến trên 35 tỷ đô, lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc nội của nhiều quốc gia. Nhưng thành công này lại bắt nguồn từ một thất bại mà đã được Disney biến thành cơ hội.

VẾT PHỎNG CÀ PHÊ

Clare Newton là một trong hàng ngàn người đang trên đường đi đến sở làm thì tai nạn xảy ra. Bà là một phụ nữ 42 tuổi đến từ Harkney, phía Đông Luân Đôn và làm trong ngành thiết kế bao bì sản phẩm. Buổi sáng hôm ấy, bà dừng chân mua một tách cà phê cappuchino mang đi. Loay hoay tay cầm giỏ xách, tay cầm ly cà phê nóng, không may bà trượt tay làm đổ ly cà phê và bà bị phỏng toàn bộ phần cánh tay lên đến khuỷu tay. Song, đây chính là tai nạn đã làm thay đổi cuộc đời bà.

Clare có thể tính đến việc kiện cửa tiệm bán ly cà phê cappuchino cho bà. Chắc chắn bà không phải là người đầu tiên đòi bồi thường sau khi làm đổ ly cà phê nóng lên người. Nhưng thay vì than thân trách phận hay nhờ luật sư khởi kiện thì Clare lại làm điều mà ta thường thấy ở những người đã đạt được hạnh phúc và thành công lâu dài trong cuộc sống – bà đi tìm mặt phải.

Sau vụ tai nạn, trong lúc ngồi chườm nước đá lên tay thì Clare nhận ra một điều mà không ai trong số hàng ngàn người từng bị phỏng khi đang cầm ly cà phê nóng nhận ra. Vụ tai nạn đã hé lộ một cơ hội lớn và vô cùng hấp dẫn.

Clare kể rằng trong lúc chăm sóc vết thương, bà chợt ngộ ra rằng “nhiều người đi mua cà phê trong khi mang linh kinh đủ loại túi xách và rất dễ bị phỏng… Tôi quyết định phải tìm ra giải pháp.” Bà bắt đầu nghĩ cách giảm thiểu nguy cơ đó và bắt đầu tạo ra một sản phẩm giúp cho việc cầm đồ uống nóng trở nên dễ dàng và an toàn hơn, thậm chí khi họ tay xách nách mang.

Clare nghĩ ra một thiết kế đơn giản nhưng thông minh, gọi là “đồ cầm ly”, cho phép người dùng cầm ly theo ba cách khác nhau: xách quai phía trên, giữ tay cầm bên hông, đỡ ly phía dưới (có thể dùng làm giá để ly).

“Tôi nhớ một ngày nọ tôi bước vào phòng họp và khách hàng của tôi đã há hốc miệng khi họ nhìn thấy đồ cầm ly”, Clare nói, “Lúc đó tôi ôm đồm nào là hồ sơ, cặp tài liệu, dù và túi xách nhưng vẫn giữ được hai ly cà phê thăng bằng chỉ bằng một đầu ngón tay nhờ đồ cầm ly đôi. Họ hết sức kinh ngạc.”

Clare đăng ký bản quyền thiết kế và sản phẩm này sau đó đã giúp bà giành giải Nữ Sáng Chế của nước Anh năm 2001, một giải thưởng do Bộ Sáng Chế Anh tài trợ. Chìa khóa đưa đến thành công của Clare nằm ở chỗ: sau tai nạn của mình, bà nhận ra nhu cầu cần có giải pháp cầm ly cà phê nóng đến sở làm dễ dàng và an toàn trong khi tay xách nách mang bao nhiêu thứ khác. Bằng việc tập trung vào nhu cầu đó và tìm kiếm giải pháp, Clare đã tìm ra mặt phải.

Doanh nhân luôn nuôi dưỡng thói quen tìm kiếm cơ hội. Hễ có thay đổi xảy ra hay phải đối mặt với khó khăn, họ lại cảm thấy hào hứng thay vì nản chí, bởi họ biết khó khăn và trở ngại sẽ hé lộ những nhu cầu mới. Doanh nhân hiểu rõ yếu tố duy nhất và quan trọng nhất có thể báo trước sự thành bại trong kinh doanh là mức độ thử thách mà họ phải giải quyết hay tầm quan trọng của nhu cầu mà họ phải đáp ứng.

Nếu một doanh nghiệp muốn thành công, họ phải có khả năng đưa ra giải pháp cho một vấn đề và từ đó đáp ứng nhu cầu phát sinh. Thomas Edison, người được công nhận là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử đã hành động dựa trên cơ sở này trong suốt sự nghiệp của mình. Ông giải thích, “Tôi chưa bao giờ hoàn thiện một sáng chế mà không nghĩ đến hướng phục vụ của nó cho mọi người… Tôi tìm hiểu xem thế giới cần gì rồi mới đi phát minh.”

Do vậy, mặt phải của mọi vấn đề hay trở ngại chính là nhu cầu mà nó bộc lộ. Những vấn đề hay trở ngại lớn thường mở ra nhu cầu lớn, và dĩ nhiên là một cơ hội tốt đẹp lớn lao. Đó là lý do tại sao các doanh nhân như Sylvan Goldman chào đón những khó khăn và các nhà phát minh như Thomas Edison sẵn sàng phá vỡ lối mòn để tìm kiếm khó khăn. Đối với họ, ấy là những cơ hội tiềm ẩn.

NGƯỜI DOANH NHÂN BÊN TRONG MỖI CHÚNG TA

Michael Gerber, tác giả của quyển sách bán chạy nhất The E Myth (Thần Thoại Doanh Nhân) tin rằng có một doanh nhân, được định nghĩa là người có tầm nhìn và sáng tạo, trong mỗi chúng ta. Ông nói, “Tất cả chúng ta đều được sinh ra với phẩm chất đó và nó định hướng cuộc đời chúng ta thông qua cách chúng ta đáp lại những điều mình thấy, nghe, cảm giác và trải nghiệm.” Tinh thần doanh nhân đó trong chúng ta cần được nuôi dưỡng và phát triển bởi nó sẽ quyết định cách chúng ta phản ứng lại các sự kiện, và trên hết là thành công và hạnh phúc trong cuộc sống chúng ta.

Trong khi ai cũng có khả năng tư duy và hành động như một doanh nhân, nhưng thường chúng ta không làm thế. Một trong những lý do có thể là tại một thời điểm nào đó trong quá khứ, chúng ta đã học cách trở nên bất lực. Một lý do khác có thể là trong những giai đoạn khó khăn, chúng ta không đi tìm cơ hội. Dĩ nhiên, cơ hội ở đây không đơn thuần là việc kiếm ra nhiều tiền, mà là những cơ hội to lớn và quan trọng hơn như để học, để hiểu, để yêu thương, để phát huy tiềm năng cá nhân và để tạo ra sự khác biệt.

Thông thường, chúng ta cần tư duy theo cách của doanh nhân để tìm ra những cơ hội vốn sẽ mãi mãi là ẩn số đối với những người khác. Để phát triển lối suy nghĩ đó, chúng ta phải tự đặt ra những câu hỏi khác biệt, nhất là ở thời điểm khó khăn. Nhưng chỉ cần chúng ta biết cách đặt câu hỏi đúng đắn; những câu hỏi chuyển hóa ý nghĩa của khó khăn hay thất bại thì chính câu trả lời sẽ là kim chỉ nam cho chúng ta tìm được mặt phải.

Phần 2 – Chương 9
Đánh giá bài viết