“Trong mỗi khó khăn đều tiềm ẩn một cơ hội to lớn đủ để quét sạch khó khăn đó. Những câu chuyện thành công vang dội đều được viết nên bởi những người biết chấp nhận khó khăn và biến nó thành cơ hội.” – Joseph Sugarman

Lần đầu tiên tôi gặp người đã tìm ra mặt phải của cuộc sống là vào tháng hai năm 1981, một buổi tối mùa đông lạnh lẽo. Thật ra, tối hôm đó tôi được gặp những hai chứ không phải chỉ một con người đặc biệt, cả hai đều kể về những sự kiện quan trọng đã làm thay đổi cuộc đời họ. Dù không nhớ tên hai con người đó nhưng những gì xảy ra tối hôm ấy vẫn đọng lại trong tôi, chẳng thể nào quên được.

Lúc đó tôi vừa xem xong một vở kịch ấn tượng do đội kịch sinh viên của trường Đại học Southampton trình diễn có tựa đề Whose Life Is It Anyway? (Vậy Đây Là Cuộc sống Của Ai?). Nội dung vở kịch kể về một người đàn ông tỉnh dậy trong bệnh viện, sau một tai nạn xe hơi thảm khốc, và bàng hoàng nhận ra mình bị liệt cả tay chân. Từ cổ trở xuống ông hoàn toàn không có cảm giác và không thể nhúc nhích được gì.

Nội dung vở kịch cực kỳ cuốn hút. Trước khi tai nạn xảy ra, người đàn ông ấy là một nghệ sĩ suốt ngày chỉ biết có công việc. Khi biết mình bị liệt và không cam lòng với viễn cảnh không còn điều khiển được bất cứ thứ gì, người đàn ông đã thỉnh cầu những người có chức trách trong bệnh viện về một cái chết nhân đạo. Khi bệnh viện từ chối lời đề nghị của ông, ông đã khởi kiện để đòi quyền được chết.

Đó quả là một kịch bản hay, lột tả được cuộc đấu tranh đầy cảm động của một người đàn ông với đầu óc minh mẫn, hóm hỉnh, tràn đầy sức sống bị mắc kẹt trong một cơ thể vô dụng. Đồng thời nó cũng nêu bật lên những tranh cãi xoay quanh cái chết nhân đạo trên phương diện pháp lý và đạo đức. Trong quá trình theo đuổi đấu tranh pháp lý, người đàn ông bỗng cảm nhận những khác biệt rõ rệt trong cuộc đời mình. Ông bắt đầu thiết lập mối quan hệ với mọi người xung quanh, và chính những thử thách trong vụ kiện đã khiến cuộc sống thường nhật của ông trở nên có ý nghĩa. Tôi sẽ không nói cho bạn nghe về kết cục của vở kịch; tôi chỉ nói rằng nếu bạn có dịp xem vở kịch đó (hoặc bộ phim được chuyển thể do Richard Dreyfuss đóng), tôi cam đoan bạn sẽ có một buổi tối đáng nhớ và nhiều suy ngẫm.

Là một sinh viên theo học ngành Luật, tôi đặc biệt thích vở kịch này bởi ngay tại thời điểm đó chúng tôi đang tìm hiểu những tranh cãi về mặt pháp lý và đạo đức xoay quanh cái chết nhân đạo trong khóa học của mình. Một trong những vấn đề chính mà vở kịch nêu lên là liệu người ta có đủ tỉnh táo và tinh thần ổn định để đưa ra một quyết định sáng suốt ngay sau khi phải chịu một tổn thương sâu sắc cả về thể xác lẫn tinh thần hay không. Nếu không, thì cần một khoảng thời gian bao lâu, hoặc cần kiểm tra những gì nhằm xác định người đó có đủ khả năng đưa ra một quyết định dựa trên lý trí? Buổi diễn kịch năm 1981 này đặc biệt đáng nhớ bởi sau khi vở kịch kết thúc đã diễn ra một cuộc thảo luận cởi mở về những vấn đề mà cốt truyện nêu ra. Đạo diễn của vở kịch được mời lên sân khấu cùng với một giáo sư Luật, một giáo sư Tâm lý học và hai người đàn ông khác, cả hai đều ngồi xe lăn.

Vị giáo sư Luật nói về những vấn đề cần được cân nhắc khi xem xét việc hợp pháp hóa cái chết nhân đạo. Ở Vương quốc Anh, tự tử không bị xem là tội hình sự, do đó người ta có thể lập luận rằng việc giúp một người mong muốn tìm đến cái chết nhưng lại không đủ năng lực để tự sát thì không thể bị coi là phạm tội hình sự. Nếu một người mà bạn yêu thương đang phải chịu đau đớn và yêu cầu bạn  giúp họ chấm dứt nỗi đau đớn đó bằng cách đưa cho họ nguyên một lọ thuốc, thì bạn có đưa không? Với việc làm đó, liệu bạn có bị buộc tội giết người hay ngộ sát không?

Nếu một người lành lặn được phép nốc hết một lọ thuốc để kết liễu đời mình thì tại sao một người tàn tật lại bị phủ nhận cái quyền tương tự, chỉ vì người đó không thể tự mình cầm lọ thuốc lên?

Luật pháp đánh giá mức độ cấu thành tội phạm như thế nào đối với hành động giúp đỡ người khác chấm dứt cuộc sống? Rõ ràng, hầu hết mọi người sẽ không ngần ngại chấm dứt sự đau đớn cho một con vật, vậy tại sao chúng ta không dành lòng thương cảm đó cho con người? Càng suy nghĩ về vấn đề này thì ta lại càng nhận ra rằng điều đó thật hiển nhiên. Một trong những câu hỏi lớn chưa có lời đáp là phải mất bao lâu sau tổn thương thì một người có nguyện vọng tự tử mới được tuyên bố là đủ tỉnh táo để có thể đưa ra một quyết định hợp lý.

Nhà tâm lý học tiếp tục cuộc thảo luận và giải thích rằng bất cứ tổn thương nào cũng đều gây ra ảnh hưởng đến nhận thức và lối cư xử của con người. Điều này được biết đến như là triệu chứng rối loạn căng thẳng sau tổn thương và thường xảy ra trong vòng ba tháng đầu tiên sau một chấn thương tâm lý. Tuy nhiên, có khi cả năm sau các triệu chứng rõ rệt của căn bệnh mới xuất hiện như trầm cảm, có xu hướng tự vẫn, gặp ác mộng, hay nổi giận và hồi tưởng về những việc đã qua.

Đối với cá nhân phải chịu đựng một trong những dạng tổn thương tồi tệ nhất về thể xác lẫn tinh thần là việc mất khả năng điều khiển gần như toàn bộ cơ thể cùng với tất cả các di chứng mà tổn thương để lại, thì không có cách nào để biết người đó có khả năng đưa ra quyết định mang tính lý trí hay không. Với tất cả những lý do đó, nhà tâm lý học đã lập luận rằng người bệnh không có khả năng đưa ra một quyết định dứt khoát như vậy trong vòng ba tháng đầu tiên sau chấn thương.

Đến lúc này, hai người đàn ông ngồi xe lăn bắt đầu nói chuyện với khán giả. Những gì họ nói ra đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và khó phai đến nỗi hai mươi lăm năm sau tôi vẫn nhớ như in. Họ giải thích rằng trong những tuần lễ đầu sau vụ tai nạn, họ chỉ muốn chết. Nhưng trong những tháng tiếp theo, cuộc sống và nhân sinh quan của họ bắt đầu thay đổi. Họ phải đối mặt với các thử thách mới mỗi ngày; những thử thách mà trước khi xảy ra tai nạn chẳng gây ra cho họ chút khó khăn nào, như việc tắm rửa và thay đồ mỗi buổi sáng, giờ đây lại quả là thách thức. Vụ tai nạn buộc họ phải đánh giá lại cuộc sống của mình, cả những hy vọng, ước mơ và khát khao. Cả hai đều nói rằng chính điều này đã đem đến một thứ mà họ chưa từng mong đợi. Cả hai người đàn ông, theo cách của riêng mình, đã tìm được nghị lực sống.

Điều mà tôi kinh ngạc nhất là cả hai người đàn ông này đều nói rằng so với thời gian trước khi gặp tai nạn, cuộc sống của họ giờ đây lại trở nên phong phú và họ mãn nguyện hơn nhiều. Họ tuyên bố rằng bây giờ họ  cảm thấy hạnh phúc hơn và thậm chí cả hai còn khẳng định vụ tai nạn là “điều tốt nhất từng xảy đến với họ”. Tôi cảm thấy choáng váng vì những lời nói đó. Làm sao một người có thể nói về tai nạn đã biến họ thành phế nhân suốt đời gắn liền với chiếc xe lăn là điều tốt nhất đã xảy đến với họ?

TẤM NGÂN PHIẾU AN SINH XÃ HỘI TRỊ GIÁ 105 ĐÔ MỸ VÀ CÔNG THỨC NẤU MÓN GÀ RÁN

Khi Harland Sanders mất đi công việc kinh doanh chính tay ông gây dựng suốt một thời tuổi trẻ, ông đã 65 tuổi, dù chuyện xảy ra không phải do lỗi của ông. Vào thời điểm mà nhiều người trạc tuổi ông hoặc nghỉ hưu hoặc đang chờ ngày nghỉ hưu thì Harland lại phải đương đầu với nguy cơ phá sản. Ông nhận ra mình chỉ còn tấm ngân phiếu an sinh xã hội trị giá 105 đô Mỹ để sống hết quãng đời còn lại. Tình cảnh này hóa ra lại là một trong những điều tốt nhất xảy đến với Harland, bởi chính việc kinh doanh thất bại đã trở thành xúc tác cho một điều đáng kinh ngạc. Harland đã không ngừng làm việc để đi tìm mặt phải của nghịch cảnh.

Việc Harland có thể tìm thấy mặt phải của nghịch cảnh không phải do ngẫu nhiên. Ông không lạ gì những thời điểm khó khăn. Sinh ra vào ngày 9 tháng 9 năm 1890 tại tiểu bang Indiana của nước Mỹ, tuổi thơ của Harland hoàn toàn không êm đẹp. Trước sinh nhật lần thứ sáu của mình, bố ông qua đời và mẹ ông buộc phải ra ngoài kiếm việc nuôi sống gia đình.

Thay vì được đến trường, Harland chịu trách nhiệm chăm sóc cậu em trai ba tuổi và cô em gái còn ẵm ngửa. Harland phải nấu ăn và lau dọn cho các em. Bằng tất cả khả năng của mình, Harland làm xuất sắc cả hai việc đó. Theo lời mẹ ông, chưa tròn bảy tuổi, Harland đã nổi tiếng trong vùng là người biết nấu nhiều món ăn ngon.

Lên 10 tuổi, Harland có được việc làm đầu tiên ở một nông trại gần đó với mức lương 2 đô Mỹ một tháng. Và khi ông 12 tuổi, mẹ ông đi bước nữa và ông rời căn nhà đang sống, gần Henryville, Indiana để đến làm việc cho một trang trại ở Greenwood. Trong những năm tiếp theo, ông trải qua rất nhiều nghề, đầu tiên là nhân viên bán vé tàu điện tại New Albany ở  tuổi 15. Sau đó vào năm 16 tuổi, ông trở thành binh nhì phục vụ sáu tháng trong quân đội ở Cuba.

Vài năm sau, Harland làm nhân viên cứu hỏa cho ngành đường sắt, theo học Luật bằng loại hình đào tạo từ xa, thực hành trong phòng Tư pháp của tòa án Hòa Bình, bán bảo hiểm, lái phà chạy bằng hơi nước trên sông Ohio, bán lốp xe, và cuối cùng là điều hành một trạm dừng dành cho xe tải đường dài ở Corbin, bang Kentucky.

Năm 40 tuổi, Harland nảy ra một sáng kiến mới. Ông bán thức ăn cho các hành khách dừng chân tại trạm của ông. Lúc đó ông chưa có nhà hàng, nhưng ông vẫn có thể phục vụ khách với các món ăn địa phương đơn giản ngay trên chiếc bàn ăn của chính mình trong khu nhà ở của trạm.

Chỉ sau một thời gian ngắn, Harland nhận ra đây là cơ hội thật sự để mở rộng việc kinh doanh ngoài ga-ra sửa xe hiện tại. Thế là ông quyết định mở một nhà hàng ở bên kia đường, đủ chỗ cho 142 người. Chẳng bao lâu sau, những món ăn ngon nấu tại nhà đã khiến danh tiếng Harland ngày một lan xa. Nhà hàng của ông được đưa vào cẩm nang Những Món Ăn Ngon trong vùng. Năm 1935, Harland được Thống đốc bang – Ruby Laffoon – trao bằng khen nhằm ghi nhận sự đóng góp của ông cho văn hóa ẩm thực của bang.

Rồi cuộc đời thay đổi, vào giữa thập niên 50, chính phủ quy hoạch mở một con đường cao tốc liên bang đi vòng qua thị trấn Corbin, đổi hướng hoàn toàn hệ thống giao thông hiện tại, và cả lượng khách hàng của Harland nữa. Harland đã 65 tuổi. Chỉ mới vài tháng trước, ông còn trong tay một công việc kinh doanh phát đạt và những tưởng rằng ông có thể thoải mái nghỉ hưu bất cứ khi nào mình muốn. Vậy mà giờ đây ông đang đối mặt với nguy cơ phá sản. Ga-ra sửa xe và nhà hàng của ông bị mang ra bán đấu giá. Sau khi trả xong món nợ cuối cùng, Harland còn lại tấm ngân phiếu phúc lợi xã hội trị giá 105 đô Mỹ để sinh sống.

Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài năm, Harland nhìn lại biến cố đã xảy đến với mình, khi con đường cao tốc mới mở khiến ông mất hết công việc kinh doanh Ông không xem nó là một thảm họa, mà ngược lại, chính là cơ hội để ông có được tiếng tăm và thành công hơn cả những gì ông từng mơ ước, thậm chí không thể có được nếu ga-ra sửa xe và nhà hàng cũ của ông vẫn còn tồn tại.

Lẽ ra với việc kinh doanh phá sản, mất kế sinh nhai mà nguyên nhân không phải do mình, Harland sẽ dễ dàng bỏ cuộc. Đặc biệt ở độ tuổi đó của cuộc đời, ai có thể trách ông nếu ông tỏ ra cay cú và bực bội? May mắn thay cho Harland, ở thời đó chuyện kiện tụng và đòi bồi thường từ chính phủ của bang không dễ dàng như bây giờ.

Thay vì phàn nàn hay tìm người để trách cứ, Harland lên đường tìm kiếm mặt phải của nghịch cảnh và ông tìm được nó trong một thứ không ai ngờ – công thức rán gà!

Harland thừa biết công thức rán gà của ông đặc biệt và đã được nhiều khách hàng ưa chuộng. Vì thế, chỉ có trong tay duy nhất bí quyết chế biến món gà – sự pha trộn của mười một loại thảo mộc và gia vị – ông đã đi khắp đất nước, vào hết nhà hàng này đến nhà hàng khác với hy vọng một vài chủ nhà hàng nào đó sẽ thích và sẵn sàng trả tiền để có được công thức của ông. Harland đã rán rất nhiều gà cho các chủ nhà hàng và nhân viên của họ ăn thử. Nếu họ có vẻ thích, ông sẽ bắt đầu thương lượng rằng nhà hàng phải trả cho ông 5 xu trên mỗi con gà họ bán ra, thỏa thuận này không có giấy tờ, chỉ bằng một cái bắt tay.

Phần còn lại của câu chuyện, theo cách người ta vẫn nói, ông đã đi vào lịch sử. Năm 1964, Harland, với biệt danh “Đại tá”, đã mở được 600 cửa hàng nhượng quyền thương hiệu cho món gà rán của mình trên toàn nước Mỹ và Canada. Cũng trong năm đó, ông đã bán cổ phần của mình trong một công ty ở Mỹ với giá 2 triệu đô cho một nhóm các nhà đầu tư. Tuy vậy Đại tá vẫn là gương mặt đại diện và là người phát ngôn cho công ty. Năm 1976, sau một cuộc khảo sát độc lập, Đại tá đã được bầu chọn là nhân vật có tên tuổi thứ hai trên thế giới.

Ngày nay, chuỗi nhà hàng KFC (viết tắt của Gà Rán Kentucky) của Đại tá Sanders có mặt tại hơn 82 quốc gia trên thế giới và phục vụ khoảng 2 tỷ bữa ăn mỗi năm.

Cho đến khi ông không may mắc bệnh bạch cầu và qua đời năm 1980 ở tuổi 90, Đại tá đã đi hơn 400.000 km mỗi năm để thăm hết vương quốc KFC mà ông sáng lập. Và tất cả những thành công này được bắt nguồn từ một người đàn ông mất hết mọi thứ ở tuổi 65 nhưng quyết không đầu hàng số phận. Không còn gì hơn ngoài một tấm ngân phiếu phúc lợi xã hội 105 đô Mỹ và công thức rán gà, ông đã tìm ra mặt phải của nghịch cảnh.

MỈM CƯỜI TỪ HÀM RĂNG GÃY

Simon Purchall gặp tai nạn khi đang đi xe đạp, nó tặng anh một mồm đầy răng gãy, và còn có thể khiến anh sạt nghiệp. Trên đường đạp xe về nhà sau giờ làm, anh rẽ vào một khúc cua và bị lạc tay lái, văng ra khỏi xe. Anh té sấp mặt, quai hàm đập vào vỉa hè. Ban đầu, anh tưởng chỉ vài cái răng bị mẻ nhưng thật ra có tới bốn cái bị tổn thương nghiêm trọng. Sau khi thăm khám kỹ lưỡng, nha sĩ của Simon cho biết bốn cái răng của anh đã bị gãy nát nên buộc phải trồng răng mới. Tổng chi phí để trám những cái răng mẻ và trồng răng mới bằng kỹ thuật cấy ghép chân răng khoảng hơn 20.000 bảng Anh.

Lúc đầu, dường như Simon không có lựa chọn nào khác ngoài chuyện vay mượn tiền để điều trị. Tuy vậy, vợ của Simon – Veronika – vốn là phụ tá nha khoa tốt nghiệp tại Hungary, đã đề nghị anh sang Budapest làm răng.

“Như đa số người khác, tôi cũng có chút định kiến trong việc sang một nước cộng sản cũ để chữa răng, nhưng thật đáng ngạc nhiên”, Simon nói, “Mức độ phục vụ và trình độ chuyên môn của họ thật tuyệt vời. Tôi đã quyết định điều trị tại đó và tiết kiệm được khoảng 16.000 bảng.”

Khi trở lại Anh, Simon đã tìm được mặt phải trong vụ tai nạn của mình. Nó hé mở một cơ hội kinh doanh cho anh và Veronika nhằm giúp người khác tiết kiệm tiền, đồng thời quảng bá và tiếp thị về dịch vụ điều trị nha khoa tại Hungary.

Chính bởi Veronika là người Hungary và là một phụ tá nha khoa có trình độ càng làm cho quyết định khởi nghiệp kinh doanh của họ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Chỉ trong vòng vài tháng, công ty SmileSavers của họ đã khai trương.

Ngày nay, SmileSavers đã trở thành một doanh nghiệp thành công rực rỡ, cho phép Simon bỏ công việc cũ – một tư vấn viên trong ngành công nghệ thông tin. Anh và Veronika cùng làm trong công ty riêng của họ, cùng nhau xây dựng tương lai.

Dù đó là số phận hay chỉ là điều ngẫu nhiên xảy ra trong cuộc sống thì việc Simon bị tai nạn xe đạp vẫn chưa đủ cho anh, lẫn chúng ta, trong công cuộc tìm kiếm mặt phải của nghịch cảnh. Một chấn thương như thế đủ để đưa nhiều người ít khó khăn hơn Simon vào trạng thái trầm cảm, chưa kể đến việc kiếm đâu ra 20.000 bảng để chữa răng. Nhưng điều đáng nói ở đây, tai nạn của Simon Purchall lại là bằng chứng cho một cơ hội to lớn; nó là chất xúc tác có khả năng thay đổi cuộc đời anh. Simon đã biết nắm bắt cơ hội và chuyển tai nạn thành lợi thế cho mình. Giờ đây anh nhìn lại toàn bộ quá trình vụ tai nạn của mình cùng một nụ cười; nụ cười với hàm răng đều đặn, và biết rằng nếu không có vụ tai nạn đó, chắc anh đã không tận hưởng cuộc sống như ngày hôm nay. Simon Purchall đã tìm được mặt phải trong hoàn cảnh của chính mình.

ĐI TÌM MẶT PHẢI

Liệu có phải chỉ nhờ may mắn mà hai người đàn ông tàn tật suốt đời gắn liền với chiếc xe lăn lại tìm thấy trong sự khiếm khuyết về thể xác một điều gì đó khiến cuộc đời họ trở nên ý nghĩa và hạnh phúc hơn? Liệu có phải do bàn tay định mệnh đã giúp Harland Sanders gặt hái thành công trên khắp thế giới, điều mà có thể ông không bao giờ đạt được nếu ngay từ đầu ông không mất tất cả? Và phải chăng một chút vận đỏ đã giúp Simon Purchall xây dựng thành công một doanh nghiệp về nha khoa ngay sau tai nạn xe đạp của chính mình?

Hay bên cạnh đó còn có một điều gì khác? Liệu có tồn tại một sợi chỉ đỏ xuyên suốt những câu chuyện trên và trong nhiều câu chuyện tương tự? Một điều gì đó đã giúp những con người bình thường thật sự “lật ngược” tình thế hay hoàn cảnh bất lợi để tìm ra những cơ hội vốn có thể mãi mãi tiềm ẩn.

Tác phẩm Mặt Phải là một nỗ lực để trả lời những câu hỏi trên chỉ bằng một triết lý tuy đơn giản nhưng có khả năng thay đổi cuộc sống, dù vẫn còn nhiều tranh cãi. Điều cốt lõi của triết lý này là niềm tin rằng mỗi vấn đề, trở ngại dù to lớn hay nhỏ nhoi mà cuộc sống sắp đặt sẵn cho ta, đều tiềm ẩn một cơ hội, một lợi ích tương đương hay thậm chí lớn hơn cả trở ngại đó. Lợi ích hay cơ hội ấy được gọi là “mặt phải”.

Để hiểu được bí mật của mặt phải, tôi sẽ đưa bạn đến Nam Phi để gặp một người đàn ông không có bàn chân nhưng lại giữ các kỷ lục thế giới trên đường chạy 100 mét, 200 mét, và 400 mét. Anh đã trở thành một hiện tượng thể thao trên toàn thế giới. Chúng ta sẽ đến Tây Ban Nha để học hỏi từ một trong những danh thủ bóng đá triển vọng một thời, người đã mất đi sự nghiệp và ước mơ thời niên thiếu trong một tai nạn xe hơi bi thảm nhưng vẫn tiếp tục vươn lên để đạt được những ước mơ khác, những ước mơ to lớn hơn đã đưa anh đến sự giàu có và nổi tiếng toàn cầu.

Tôi sẽ giới thiệu với bạn một ảo thuật gia mù lòa, người sẽ giải thích vì sao căn bệnh đã lấy đi 90% thị lực của anh từ khi chín tuổi lại là một “món quà”. Chúng ta sẽ nghe từ một người đàn ông bị mất việc, nhưng nhờ vậy, ông lại vươn lên trở thành người thay đổi bộ mặt ngành giải trí nước Mỹ, rồi chúng ta sẽ gặp một người sống sót từ trại tập trung Auschwitz của Đức quốc xã và làm thay đổi hoàn toàn thế giới tâm lý học.

Chúng ta sẽ đi ngược dòng thời gian để chứng kiến những bi kịch xảy ra trong quá khứ và nỗi bất hạnh của từng cá nhân, tất cả đều được biến thành minh chứng cho sự sinh tồn. Tôi sẽ giới thiệu với bạn nhiều nhân vật xuất sắc và cùng nhau chúng ta sẽ học hỏi từ họ, từ những khó khăn, trở ngại mà họ buộc phải đối mặt. Ban đầu, mọi thứ chẳng dễ dàng gì. Chúng ta sẽ phải chứng kiến nhiều khổ hạnh và đớn đau. Chúng ta sẽ khám phá nhiều bi kịch hơn chúng ta nghĩ, nhưng một khi đã đi hết cuộc hành trình, biết đâu ta sẽ hiểu được một điều, mà theo nhiều người, thì chỉ có duy nhất một bí quyết quan trọng nhằm đạt được thành công và hạnh phúc lâu dài trong cuộc sống.

Chào mừng bạn đến với mặt phải…

Adam J Jackson 

JaveaTây Ban Nha – Tháng 112008.