KHỦNG HOẢNG   HỘI

TẠI SAO KHỦNG HOẢNG LẠI LUÔN LÀ CƠ HỘI

Từ khủng hoảng trong tiếng Hán được viết  nguy  – gồm hai chữmột  sự hiểm nguy  chữ còn lại   hội. ” – Bài diễn văn ngày 12/4/1959 của Tổng thống John FKennedy

BA CẬU BÉ – ba anh em – vừa hào hứng vừa hồi hộp, lên đường đi đến rạp chiếu phim địa phương. Đó là một buổi sáng thứ bảy trong lành ở vùng ngoại ô thành phố Manchester, nước Anh, vào những năm 50. Rạp chiếu phim địa phương đông nghẹt trẻ em, một số đi cùng cha mẹ. Riêng ba cậu bé không đến đây để xem phim. Chúng đến theo thỏa thuận trước đó với người quản lý rạp. Các cậu sẽ mua vui cho khán giả trong giờ giải lao bằng việc diễn theo một bài hát đã được thu sẵn. Đó sẽ là một màn vui nhộn mới lạ. Nhưng vào buổi sáng hôm đó, trên đường đến rạp chiếu phim, các cậu đã gặp tai họa, dĩa thu âm bị rớt khỏi vỏ, văng xuống vỉa hè vỡ nát.

Nếu không có đĩa thu âm để diễn, người ta có thể chấp nhận việc các cậu bỏ cuộc và về nhà. Người quản lý rạp chiếu phim cũng sẽ thông cảm. Nhưng các cậu lại chọn cách khác. Trong lúc tiếp tục đi đến rạp phim, ba anh em đồng ý với nhau là họ vẫn biểu diễn, nhưng thay vào đó họ sẽ hát thật. Người anh cả Barry chơi đàn ghi-ta cùng với hai em Maurice và Robin, cả ba cùng hát trước khán giả. Buổi sáng hôm ấy cũng là lần đầu tiên các cậu hát trước công chúng, kết quả là khán giả rất yêu thích tiết mục đó. Các cậu bé ngay lập tức được chú ý.

Tai họa tưởng như hủy hoại buổi biểu diễn đó của ba cậu bé lại hóa thành chất xúc tác làm thay đổi cuộc đời các cậu. Nó đánh dấu sự khởi đầu của một trong những ban nhạc pop nam, nhạc sĩ, và nghệ sĩ thu âm thành công nhất mọi thời đại. Ba cậu bé đó là ba anh em nhà Gibb, còn được biết đến với cái tên quen thuộc “The Bee Gees”.

Nhiều năm sau, khi họ đi dọc đường Keppel ở thành phố Manchester để quay một bộ phim tư liệu về cuộc đời mình, Robin dừng lại nơi đĩa thu âm bị vỡ, anh xoay sang máy quay và nói đùa “Nếu chiếc dĩa thu âm không bị vỡ ngày hôm đó thì anh em mình đã không hát cùng nhau rồi.” Đĩa thu âm bị vỡ, hay nói chính xác hơn, là cách họ phản ứng với hoàn cảnh đã trở thành khởi đầu cho một sự nghiệp lẫy lừng trong suốt hơn năm thập kỷ.

TRÁI CAM  MỨT CAM

Khủng hoảng đẩy ta vào hoàn cảnh ta chưa từng biết đến và buộc ta quyết định làm những việc mà trước đây ta chưa từng làm. Dù ta không nhận ra nhưng khủng hoảng luôn đi cùng với một mặt phải. Luôn có một cơ hội chờ đợi ta khám phá.

Nếu không có khủng hoảng mà James Keiller, người gốc Dundee, phải đối diện vào khoảng cuối những năm 1700 thì thế giới có thể sẽ không bao giờ được tận hưởng vị ngon của vỏ cam được làm thành mứt. Trong tiếng Bồ Đào Nha, nguồn gốc của từ mứt cam (marmalade) là marmelo, có nghĩa là “quả mộc qua”, một loại trái cây thường được dùng làm mứt vào thời đó. Cam lúc ấy chỉ được dùng như trái cây tươi hay vắt lấy nước uống, nhưng điều đó sắp thay đổi.

Một chuyến tàu của Tây Ban Nha chở đầy cam Seville phải cập cảng Dundee để tránh một cơn bão lớn. Thuyền trưởng của tàu rao bán toàn bộ kiện hàng với giá rẻ mạt và Keiller nghĩ mình đã vớ được một món hời. Tuy nhiên, anh nhanh chóng phát hiện ra các trái cam đã mềm, hầu hết đã bắt đầu bị hư và có vị đắng. Keiller biết mình không thể bán những trái cam này được nữa và buộc phải đối mặt với một thiệt hại tài chính chưa từng có.

Với tâm trạng buồn nản và choáng váng, Keiller đem những trái cam về nhà và thú nhận hết với vợ. Không ai biết chính xác những gì xảy ra sau đó, có thể là Keiller hoặc vợ anh – Janet –  đã nảy ra sáng kiến cứu vãn tình thế, biến khủng hoảng thành lợi nhuận tức thì. Đó rõ ràng là một sáng kiến giúp tạo ra một ngành công nghiệp hoàn toàn mới, và thay đổi cuộc sống của gia đình Keiller mãi mãi. Theo những gì chúng ta biết thì Janet đã dùng những trái cam thay cho quả mộc qua để làm mứt. Loại mứt mới có hương vị cam trở nên rất được ưa chuộng và gia đình Keiller bắt tay vào sản xuất một món mà ngày nay chúng ta gọi là mứt cam.

Câu chuyện về nguồn gốc mứt cam xuất phát từ gia đình Keiller có thể thật hoặc không thật – một số nhà sử học cho đó là chuyện hư cấu. Nhưng bất chấp tính xác thực của nó, câu chuyện vẫn chứa đựng một thông điệp quý giá. Khủng hoảng, như các nhà hiền triết Trung Hoa đã biết từ ngàn xưa, luôn đi cùng những cơ hội to lớn.

NHỮNG CÁNH HOA HỒNG

Sarah Benjamin là một ví dụ khác cho những người đã dựng nên cơ nghiệp thành công sau khủng hoảng. Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân khoa học, Sarah trở lại quê nhà Swan Hill ở Victoria, nước Úc, và nhận ra rằng ở đây không cần những nhà khoa học. “Tôi phát hiện ra rằng tìm việc làm thật khó”, cô nói, “Tôi không biết dùng tấm bằng cử nhân khoa học của mình vào đâu, bởi người ta bảo bằng cấp của tôi vượt quá yêu cầu công việc.”

Không hy vọng gì kiếm được việc, Sarah đề xuất với mẹ mình một ý tưởng: trồng hoa hồng để cung cấp cho các tiệm bán hoa trong vùng. Mẹ của Sarah, Jan Slater, cũng thích ý tưởng đó và hai mẹ con cùng nhau khởi nghiệp vào năm 2004. Tuy nhiên, chỉ trong năm đầu tiên, họ đã phải đối mặt với một khủng hoảng có khả năng làm tiêu tan cơ nghiệp trước khi nó bắt đầu. Không còn khởi đầu nào tệ hơn thế nữa. Đợt thu hoạch hoa hồng đầu tiên bị bệnh, tất cả bông hoa đều bị héo đầu, chắc chắn không thể bán được.

Nguyên nhân là do một loại vi khuẩn có trong nguồn nước nhưng đã quá muộn không thể cứu những bông hoa. Một tai họa, đúng thế, nhưng nó lại ươm mầm cho thành công trong tương lai của hai mẹ con cô. Mối  nguy đó buộc Sarah phải xem xét lại kế hoạch kinh doanh của mình, và trong quá trình làm việc, cô đã phát hiện một cơ hội tiềm ẩn biến công việc kinh doanh nhỏ của cô thành một thành công trên toàn cầu như hôm nay.

Sarah nhận ra rằng nếu muốn công việc kinh doanh hoa hồng của mình tồn tại lâu dài thì cô phải tìm thêm nguồn thu nhập mới. Trong khi tìm kiếm trên Internet, Sarah vớ được một thứ mà cô tin là cơ hội phi thường. Cô khám phá ra ngành công nghiệp sản xuất cánh hoa hồng khô.

Lợi ích của việc buôn bán cánh hoa hồng khô rõ ràng cao hơn nhiều so với hoa tươi; cánh hoa hồng khô giữ được lâu hơn, nó lại nhẹ nên chi phí vận chuyển thấp hơn. Thị phần cho sản phẩm này vẫn còn mới lạ và hấp dẫn, hầu như chưa được khai thác ở Úc. Những cánh hoa hồng khô, theo cô được biết, đang ngày càng được ưa chuộng trong việc trang trí lễ cưới, tiệc tùng và hội họp. “ở Mỹ và Anh, sản phẩm này đang thật sự bùng nổ”, cô nói, “nhưng chưa có ai thật sự kinh doanh mặt hàng này ở Úc cả.”

Không phải ai cũng ủng hộ ý tưởng của Sarah. Một số người cho rằng cô bị điên. Họ nói “Cô sẽ sập tiệm trong vòng mười hai tháng. Ai đời lại đi mua cánh hoa hồng cơ chứ?” Nhưng Sarah và mẹ cô vẫn kiên định, tiếp tục nghiên cứu thị trường, công nghệ và họ đã chứng minh những gì người khác nghi ngờ là sai. Ngày nay, công ty Simply Rose Petals trở nên lớn mạnh và cung cấp cánh hoa hồng khô được tuyển lựa tỉ mỉ, dùng trong trang trí đám cưới, trị liệu spa, hoa giấy rải trong lễ cưới, và công ty của cô đã xuất khẩu sản phẩm này đi khắp thế giới. Một công việc kinh doanh phát đạt được phát triển từ một ý tưởng nảy ra trong khủng hoảng.

BỆNH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM VÀ MÓN SÔCÔLA RƯỢU

Simon và Helen Pattinson sống cùng hai cô con gái nhỏ Poppy và Daisy trong một ngôi làng yên tĩnh gần Chichester, giáp ranh khu bảo tồn thiên nhiên Pagham. Họ có một cuộc sống mà theo nhiều người là rất sung túc, họ điều hành một công ty riêng cực kỳ thành công. Công ty của họ mang lại công ăn việc làm cho hàng trăm nhân công trong vùng và doanh thu năm vừa rồi của họ đạt hơn 5 triệu bảng Anh. Nhưng cuộc sống mà họ tận hưởng ngày hôm nay, nhà cửa, đời sống vật chất và công việc kinh doanh, tất cả đều bắt nguồn từ hai lần khủng hoảng.

Cách đây tám năm, Simon và Helen cả hai đều vỡ mộng với nghề luật sư tại thủ đô Luân Đôn. Họ không biết mình muốn gì, nhưng chắc chắn họ không muốn cuộc sống của một luật sư thành phố. Simon giải thích, “Chúng tôi rơi vào hoàn cảnh giống như trong tiểu thuyết trào phúng Catch-22. Chúng tôi không biết mình muốn làm gì trong cuộc sống hiện tại nhưng chúng tôi biết chắc mình sẽ không bao giờ có được khoảnh khắc “Ơ-rê-ka” nếu không tự giải phóng mình khỏi những việc đang làm.” Cuối cùng họ quyết định làm điều duy nhất đó là nộp đơn thôi việc, bán căn nhà ở Putney, thành phố Luân Đôn và đi du lịch. Và, với tất cả những gì có trong ba lô, họ lên đường du lịch vòng quanh thế giới, tìm kiếm nguồn cảm hứng và hướng đi mới cho cuộc sống.

Mặc dù quay lưng với nghề nghiệp thu nhập cao mà họ mất nhiều năm học tập mới có được, song những người bạn và gia đình vẫn ủng hộ hai người hết mình. “Cha của Helen kỳ vọng cô ấy sẽ trở thành một Thượng nghị sĩ pháp chế”, Simon đùa, “Và nếu mọi người nghĩ chúng tôi điên thì họ cũng không nói ra đâu.” Cả hai đã mệt nhoài bởi công việc làm từ ngày dài đến đêm thâu, một con đường đi đi về về mỗi ngày không thay đổi. Simon nói tiếp, “Chúng tôi thấy mình kiệt sức và muốn thay đổi. Mục đích chính của chúng tôi khi đi du lịch là để tìm một ý tưởng kinh doanh hay một điều gì đó hứng thú.” Họ không hề biết điều gì đang chờ đợi mình, chỉ hy vọng rằng sau khi vác ba lô đi khắp thế giới, họ sẽ tìm được câu trả lời.

Chặng dừng chân đầu tiên của họ là Nam Mỹ. Vùng Patagonia ở Argentina nổi tiếng bởi những rặng núi và những khu trượt tuyết, và chính trong khu nghỉ dưỡng nhỏ bé miền núi tên Bariloche, Helen và Simon lần đầu tiên được thưởng thức hương vị sôcôla Nam Mỹ. “Thật tuyệt vời!” Simon nói, “Nhìn đâu cũng thấy tiệm bán sôcôla.” Thị trấn này đã làm lóe lên một ý tưởng kinh doanh trong tương lai, dù lúc ấy họ chưa nhận ra.

Simon và Helen sau đó đi về hướng Bắc qua Chile, đến Brazil và cuối cùng dừng chân ở một rừng trồng cacao ở Venezuela. Suốt hai tuần họ bị những cây cacao và phong cảnh ngoạn mục mê hoặc trước khi tai hoạ ập đến. Khi Simon vác ba lô lên lưng, anh bỗng cảm thấy đau. Cơn đau làm anh đuối sức và dấu hiệu này cho thấy anh bị thoát vị đĩa đệm. Cơn đau nghiêm trọng đến nỗi Simon và Helen không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bay trở về Anh. Dự định du lịch vòng quanh thế giới của họ đã không thành. Đó thật sự là nỗi thất vọng cay đắng, và tệ hơn nữa, họ không còn nhà để quay về, cũng không có thu nhập.

Cả hai đành nương nhờ gia đình bố mẹ Simon trong thời gian anh giải phẫu và chờ bình phục. Tuy vậy, khi hồi tưởng lại, cả hai đều công nhận thảm họa đó thật sự là vận rủi hóa may. “Thật tình cờ bởi nó cho chúng tôi khoảng thời gian cần thiết để tìm hiểu xem mình thật sự muốn gì. Khi đọc lại nhật ký chúng tôi đã viết trong suốt thời gian ở nước ngoài, có một thứ cứ lặp đi lặp lại, đó là sôcôla.” Simon nhớ lại.

“Cho đến lúc ấy chúng tôi vẫn chưa có một ý niệm rõ ràng về điều mình định làm. Chúng tôi nghĩ chắc mình phải quay lại nghề luật sư hay một việc nào đó tệ hơn. Căn bệnh ở lưng cho chúng tôi thời gian cần thiết để nghĩ về tương lai và vạch ra kế hoạch kinh doanh”, Simon bày tỏ.

“Nếu chúng tôi cứ tiếp tục đi”, Simon trầm ngâm, “có thể chúng tôi sẽ trở thành những kẻ lang thang và không bao giờ quay lại Anh.” Thay vào đó, họ đã tìm thấy điều thật sự cuốn hút họ. Đó là cơ hội để thử làm một điều gì đó khác biệt và tạo lập cơ nghiệp cho riêng mình. Chấn thương ở lưng của Simon đánh dấu sự khởi đầu của một hành trình mới đầy thú vị Câu chuyện của họ không dừng lại ở đó. Trong khi Simon bình phục và bắt tay vào xây dựng kế hoạch kinh doanh thì Helen xin việc làm tạm thời tại các cửa hiệu để học kỹ năng bán hàng. Sau đó, cả hai gom góp tiền mở một cửa tiệm bán sôcôla đầu tiên ở Brighton, Sussex. Tuy nhiên, năm tuần trước khi cửa tiệm chính thức khai trương, một khủng hoảng khác ập xuống, lớn hơn nhiều. Lần này là về thương mại. Nhà cung ứng chính của họ phá sản. Simon nói, “Đó quả thật là một đòn chí tử. Chúng tôi đang hoàn tất mọi thứ cho cửa tiệm và chưa đầy năm tuần nữa sẽ khai trương. Rồi đột nhiên nhà sản xuất ngưng trả lời điện thoại. Lúc đầu chúng tôi cũng không để ý lắm, một tuần trôi qua và chúng tôi bắt đầu lo lắng. Helen lái xe xuống tận văn phòng của họ và chỉ khi đó chúng tôi mới phát hiện ra công ty của họ đã phá sản.”

Simon tiếp tục, “Công ty đó nắm hơn 50% sản phẩm của chúng tôi. Họ giữ hàng lô mẫu mã, khuôn đúc, nhãn  hiệu.” Helen và Simon có hai lựa chọn lúc này. Một là họ có thể từ bỏ ước mơ của mình, và hai là đánh liều mọi thứ, tự mình sản xuất sôcôla. “Chúng tôi không hề có chút kinh nghiệm hay kiến thức nào về sản xuất sôcôla”, Simon chỉ ra vấn đề. Đó là một khủng hoảng to lớn dù nhìn ở góc độ nào, và cũng vì lẽ đó, nó cũng là một cơ hội to lớn.

Trong những tuần tiếp theo, họ miệt mài nghiên cứu phương pháp làm sôcôla theo cách họ muốn, rồi đặt mua dụng cụ và với sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè (thêm một nhân viên rất tốt bụng đến từ một trong những nhà cung cấp của họ), họ bắt đầu sản xuất món sôcôla của riêng mình. Helen nói, “Đó thật là một quãng thời gian đáng sợ. Chúng tôi ngồi hàng tuần trong một căn nhà nhỏ trên nông trại. Sôcôla vung vãi khắp nơi, văng cả lên tường, nhưng dần dần chúng tôi cũng biết cách giữ nó ở yên trong máy và cho ra lò mấy mẻ hoàn chỉnh.”

Tự mình sản xuất sôcôla có nghĩa là Simon và Helen chi làm ra được vài loại, nhưng đó thật sự là sản phẩm của họ và điều này có nghĩa là họ sẽ kiểm soát việc kinh doanh của mình tốt hơn nhiều. Từ khi mở cửa tiệm Montezumas (đặt theo tên của một hoàng đế Aztec) vào năm 2000 trong khu Lanes cao cấp của thành phố Brighton, việc kinh doanh của họ trở nên lớn mạnh và có thêm một chuỗi bảy cửa hàng khắp đông nam nước Anh.

Công ty của họ là một câu chuyện kinh doanh thành công nữa được hun đúc nên từ hai con người tận tụy vượt qua khó khăn khủng hoảng. Họ đã chứng minh rằng việc mất đi nhà cung cấp chính chỉ vài tuần trước ngày khai trương lại là nguyên nhân của thành công hôm nay. Trước thời điểm đó, cả Helen và Simon đều chưa từng nghĩ đến việc tự sản xuất sôcôla. Nhưng, việc trở thành nhà sản xuất đã mang lại cho họ danh tiếng và mở ra một mảng kinh doanh hoàn toàn mới, bán sỉ trở thành nguồn thu chính. Simon khẳng định, “Nếu không bán sỉ, có lẽ chúng tôi đã không có cơ sở kinh doanh như hôm nay.”

Cả Simon và Helen đều tự nhận mình là “người lạc quan”. Anh nói, “Cả hai chúng tôi nhìn sự việc như những cơ hội hơn là trở ngại.” Điều chúng ta chứng kiến, một lần nữa, chứng tỏ rằng luôn có một mặt phải đằng sau khủng hoảng mà ta đối mặt trong cuộc sống. Mỗi khủng hoảng là một thông điệp nói với ta rằng có một cơ hội đang chờ được khám phá, và đôi khi đó là cơ hội của cả một đời người