CUỘC SỐNG THAY ĐỔIKHI ĐIỀU TỒI TỆ XẢY RA

TẠI SAO NHỮNG ĐIÊU TỒI TỆ KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG XẤU VÀ SỰ THAY ĐỔI LÀ MỘT THỬ THÁCH KHIẾN CHO MỌI VIỆC TỐT HƠN

Sự thay đổi gây ra ảnh hưởng đáng kể lên tâm  con ngườiVới những người hay lo sợ thì đó  sự đe dọa vì mọi thứ  thể tồi tệ hơnVới người luôn tràn đầy hy vọng thì đó  nguồn động viên  mọi thứ  thể khá hơnVới người tự tin thì đó  nguồn cảm hứng bởi thử thách tồn tại để giúp mọi thứ tốtđẹp hơn. ” – King Whitley Jr.

VÀO THỜI ĐIỂM mà một điều gì đó xảy đến trong đời mà ta cho là “xấu”, ta thường ngửa mặt lên trời nguyền rủa. Bất kể đấy là tổn thất tài chính, thất vọng trong nghề nghiệp hay kinh doanh, bị kẹt trong một vụ tai nạn hay thậm chí bị chẩn đoán là có vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ, phản ứng chung thường là, “Tại sao lại là tôi? Tôi đã làm gì để bị thế này?” Tuy nhiên, điều ta không nhận ra ngay lúc ấy, nhưng lại có giá trị về sau, chính là những thất bại và thử thách đó, hay nói chính xác hơn, cách mà chúng ta phản ứng với sự việc đó, sẽ quyết định tương lai và hạnh phúc của chúng ta.

Làm sao bạn biết chính xác một sự việc nào đó trong cuộc sống là “tốt” hay “xấu”? Với một số người, điều gì mang lại niềm vui là tốt và điều gì gây ra phiền toái là xấu. Nhưng trong trường hợp này bạn đánh giá thế nào: kẹo bông gòn đem lại cảm giác vui sướng (cho những ai thích nhâm nhi những sợi đường đủ màu rực rỡ) nhưng cũng sẽ gây sâu răng và do đó đem lại sự đau đớn? Hay sự đau đớn xuất hiện khi người nha sĩ khoan phần răng sâu, vốn bị coi là “xấu” nhưng cuối cùng sau khi phần sâu bị loại bỏ, trám lại thì giúp ta tránh được những cơn đau về sau?

Những người khác xem một điều gì đó là “tốt” nếu nó đưa họ đến những hy vọng và khát khao; trái lại, họ nói rằng điều gì đẩy họ về hướng ngược lại, tức là rời xa hy vọng và ước mơ là “xấu”. Nhưng khi ta nhìn lại những người như Julio Iglesias, chúng ta sẽ thấy sự việc được cho là xấu bởi nó đặt dấu chấm hết cho khát khao trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từ thời thơ ấu của anh, hóa ra lại rất tốt bởi nó cho phép anh theo đuổi một ước mơ khác, xét về nhiều mặt, to lớn hơn nhiều.

Để nhận biết một việc tốt hay xấu trong cuộc sống thật không dễ như ta tưởng. Nhiều người cực đoan tin rằng trắng đen phải rõ ràng. Chẳng hạn, hầu hết người ta sẽ đồng ý rằng trúng giải độc đắc và kiếm hàng triệu đô trong kỳ xổ số toàn quốc là điều tốt, ngược lại một người bị liệt sau khi lặn xuống biển hoặc bị cụt chân trong một vụ rơi máy bay là điều xấu. Nhưng làm thế nào chúng ta thật sự biết được?

NHỮNG NGƯỜI TRÚNG XỒ SỐ

Vào buổi tối ngày 22 tháng 5 năm 1999, cảnh sát nhận được điện báo đến một căn nhà nằm trong vùng Kingwood sang trọng thuộc thành phố Houston, bang Texas. Khi đến nơi, cảnh sát tìm thấy chủ nhà, Billy Bob Harrell, bị bắn chết trong phòng ngủ trên lầu. Theo các nhân viên điều tra, Harrell đã tự sát. Anh tự khóa mình trong phòng ngủ, cởi bỏ quần áo, đặt nòng súng lên ngực và bóp cò.

Không lâu trước khi qua đời, Harrell đã tâm sự với người cố vấn tài chính về một sự việc xảy ra chỉ mới hai mươi tháng trước, mà theo anh, đã hủy hoại cuộc đời anh. Anh đã than khóc rằng ”Đó là điều tồi tệ nhất từng xảy đến với tôi.” Tuy nhiên, đó không phải là bệnh nan y cũng không phải mất đi người mà anh yêu thương. Anh không bị tai nạn và cũng không bị mất việc. Anh và gia đình đều đang sống và khỏe mạnh. Thế thì việc khủng khiếp gì đã phá hủy cuộc đời anh?

Xác suất của điều đặc biệt ấy xảy đến với Billy Bob Harrell là khoảng 1 phần 40 triệu. Nếu anh dắt chó đi dạo và đột nhiên bị sét đánh chết thì xác suất vẫn cao hơn. Tuy nhiên, như định mệnh đã an bài, điều kỳ lạ mà ta đang nói đến đây xảy ra vào một buổi tối khi anh đang ngồi nhà đọc báo. Anh dò đi dò lại dãy số in trên trang báo. Đột nhiên, anh nhận ra mình là người trúng giải duy nhất của kỳ xổ số toàn bang Texas. Anh trúng giải độc đắc! Nhiều người sẽ bật cười khi nghe Harrell kết luận nguyên nhân hủy hoại cuộc đời anh, cũng vì nó mà anh tự sát chính là việc anh trúng số 31 triệu đô Mỹ!

Khi bạn nhìn vào tiểu sử của nhiều người trúng giải xổ số, bạn sẽ khám phá ra rằng trường hợp của Billy Bob không phải là cá biệt, ước tính cho thấy, ở Mỹ, hơn một phần ba số người trúng giải xổ số cuối cùng trắng tay.

William “Lộc Phát” Post trúng 16,2 triệu đô trong lượt xổ số tại Pennsylvania năm 1988 và cuối đời trong túi không còn một xu, phải sống nhờ trợ cấp an sinh xã hội. Khi được phỏng vấn, Post nói rằng “Tôi ước gì điều đó chưa từng xảy ra”. Trúng số, đối với anh, thật sự là một “ác mộng”.

Cơn ác mộng của Post bắt đầu khi người bạn gái cũ thắng kiện và đòi anh chia phần giải thưởng, về sau, có tin nói rằng em trai của anh bị bắt vì tội thuê người đâm chết anh với hy vọng thừa hưởng một phần số tiền trúng số. Những anh chị em khác cũng bị cáo buộc tội quấy rối (mặc dù không cùng mục đích đoạt tiền trắng trợn như thế) cho đến khi anh đồng ý đầu tư vào kinh doanh xe hơi và một nhà hàng ở Sarasota, bang Florida. Cả hai vụ đầu tư này chỉ góp phần gia tăng sự căng thẳng trong các mối quan hệ của William với anh chị em và dĩ nhiên, tổn thất còn lớn hơn mất của.

Không lâu sau đó, Post bị tống vào tù vì đã cầm súng bắn sượt đầu một người thu nợ, và chỉ trong vòng một năm, không những không có một xu dính túi, anh còn mắc nợ 1 triệu đô Mỹ. Post thú nhận rằng mình vừa bất cẩn vừa dại dột vì cố làm vui lòng mọi người trong gia đình. Sau cùng anh nộp đơn xin tuyên bố phá sản. Theo báo cáo, anh sống lặng lẽ với 450 đô mỗi tháng và phiếu thực phẩm. Anh nói, “Tôi mệt mỏi. Tôi đã hơn sáu mươi lăm tuổi và vừa trải qua một cuộc giải phẫu phình động mạch tim nghiêm trọng, xổ số chẳng có ý nghĩa gì với tôi.”

Ở Vương quốc Anh cũng có nhiều câu chuyện tương tự. Năm 1996 John McGuinness khiến nhiều người mua vé số ở Scotland ganh tị khi anh trúng hơn 10 triệu bảng, món tiền kỷ lục mà một người Scotland có thể thắng được. Thời điểm đó, McGuinness vừa ly thân người vợ đầu tiên và phải ngủ trên sàn nhà bố mẹ ruột ở Lanarkshire. Sau khi ôm trọn giải độc đắc, anh bắt đầu tiêu xài vung vít, những thứ anh mua bao gồm một biệt thự kiểu Tây Ban Nha, một chiếc xe Porsche, một chiếc Bentley và các kỳ nghỉ mát xa hoa. Tuy nhiên, chỉ đến tháng bảy năm 2007, McGuinness tuyên bố phá sản với tổng số nợ trên 2 triệu bảng.

Với những câu chuyện trên, tôi không có ý cho rằng tất cả những người trúng số đều có kết cục nghèo khổ hay chết chóc. Rất nhiều người vẫn sống tốt và hạnh phúc. Theo nghiên cứu kéo dài 5 năm do Tập đoàn Camelot thực hiện thì 55% những người trúng số sống hạnh phúc hơn (ít nhất là 5 năm đầu) sau khi trúng giải.

Ta có thể lấy những người trúng số tại Na Uy làm gương. Các nhà nghiên cứu từ Viện Tâm lý học ở Đại học Oslo đã gửi một bản khảo sát đến 261 người trúng số từ một triệu Krone trở lên trong các năm từ 1987-1991, và phát hiện ra người trúng giải trung bình là một người đàn ông trung niên có trình độ học vấn khiêm tốn đến từ một địa phương nhỏ. Hầu hết người trúng giải ở Na Uy rất cẩn trọng và không chi tiêu phung phí. Họ cũng yêu cầu được ẩn danh và cố giữ bí mật về “của trời cho” của mình. Dù với bất kỳ lý do nào, kết quả khảo sát cho thấy cuộc sống sau khi trúng số của họ trở nên ổn định hoặc cải thiện hơn.

Ý nghĩa của những câu chuyện này là sự giàu lên đột ngột, dù là hàng triệu đô hay hàng triệu bảng thì vẫn không đảm bảo được hạnh phúc. Theo Tiến sĩ Edward Diener, giáo sư Tâm lý của Đại học Illinois, một khi những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta được đáp ứng, việc có nhiều tiền hơn có ít tác động tới cảm giác hạnh phúc của chúng ta. Qua các nghiên cứu của mình, giáo sư Diener khám phá ra rằng tiền bạc, học vấn, chỉ số thông minh hoặc tuổi tác có ảnh hưởng rất nhỏ đến hạnh phúc. Điểm chung quan trọng nhất mà 10% số học sinh có mức độ hạnh phúc cao nhất và mức độ trầm cảm thấp nhất chính là mạng lưới quan hệ xã hội bền vững. Điều đó cho thấy, hơn bất kỳ yếu tố nào, chính những mối liên hệ với bạn bè, gia đình và nỗ lực dành thời gian cho họ làm tăng mức độ hạnh phúc của chúng ta. Đó là lý do tại sao Tiến sĩ Diener khuyên rằng, “Việc chú tâm vào các kỹ năng giao tiếp xã hội, các mối quan hệ cá nhân thân thiết cũng như sự hỗ trợ xã hội là hết sức quan trọng để hạnh phúc.” Trúng số có thể đem lại hệ quả hoàn toàn trái ngược vì người thắng giải cảm thấy bị cô lập với bạn bè và gia đình.

Tuy nhiên, điểm chính là: nhiều người mơ ước trúng số bởi họ tin rằng đó là tấm vé thông hành đảm bảo cho hạnh phúc. Nhưng ước mơ ấy dễ dàng biến thành ác mộng. Nó có thể là điều tốt đẹp nhất – hoặc điều tồi tệ nhất – xảy đến với bạn.

MỘT Ý NGHĨA MỚI CHO CUỘC SỐNG

Nếu việc trúng số không đảm bảo cho một “hạnh phúc mãi về sau” thì một tai nạn khủng khiếp khiến một người bị liệt cũng không hẳn là nỗi cùng khổ suốt đời. Trường hợp của Joni Eareckson Tada là một ví dụ điển hình nhất.

Joni sinh năm 1950 ở Baltimore, Maryland. Cô là con gái út trong số bốn chị em, cùng với Linda, Jay và Kathy. Tên của cô phát âm giống “Johnny” vì cô được đặt tên theo cha, John. Joni thừa hưởng khả năng thể chất và sáng tạo từ cha, điều này đã tạo nên mối gắn kết đặc biệt giữa người cha và cô con gái. Cô kể rằng, thời niên thiếu là quãng thời gian cực kỳ hạnh phúc của cô. Cô lớn lên giữa tình thương, hạnh phúc và sự yên ổn trong gia đình cùng cha mẹ. Tất cả mọi người trong gia đình cô có chung  niềm yêu thích các hoạt động ngoài trời như cắm trại, cưỡi ngựa, đi bộ đường dài, chơi quần vợt và bơi lội.

Vào một ngày hè nóng bức tháng bảy năm 1967, vừa tốt nghiệp trung học, cuộc đời của Joni đã hoàn toàn thay đổi. Joni có hẹn với chị Kathy của cô và một vài người bạn nữa ở bãi biển trên Vịnh Chesapeake để đi bơi. Khi đến nơi, Joni nhanh chóng lặn xuống nước và ngay lập tức cô nhận ra điều gì đó không ổn. Dù không thật sự đau, nhưng sau đó cô thuật lại rằng giống như có một cái gì đó bó sát người cô và nhấn cô chìm xuống. Ban đầu cô tưởng mình bị kẹt trong một tấm lưới đánh cá và cố vùng vẫy để thoát ra và trở lên mặt nước. Rồi cô hoảng loạn nhận ra mình không thể cử động được, và cô đang nằm úp mặt dưới đáy vịnh. Biết mình sắp hết hơi, cô đành buông xuôi chấp nhận mình sẽ chết đuối.

Chị Kathy của Joni gọi cô liên tục. Không thấy Joni ngoi lên, Kathy đã lao xuống nước kéo cô lên. Kathy bị sốc khi thấy Joni không thể cử động và ngã lại vào nước. Kathy xoay sở đưa được em ngoi lên mặt nước cho Joni hớp lấy không khí. Bối rối khi thấy tay mình vẫn bị trói trước ngực, nhưng rồi Joni hãi hùng nhận ra, tay mình không phải bị trói mà đang quàng bất động sau lưng chị mình. Kathy nhờ người gọi xe cấp cứu và Joni được đưa đến bệnh viện khẩn cấp.

Bác sĩ nhanh chóng chẩn đoán Joni bị gãy cổ. Một vết nứt giữa đốt sống cổ thứ tư và thứ năm khiến Joni bị liệt từ vai trở xuống.

Joni viết, “Nằm trên giường bệnh, tôi cố gắng lý giải cho sự việc hãi hùng vừa xảy ra một cách tuyệt vọng. Tôi van xin bạn bè giúp tôi được chết. Hãy cắt gân tay tôi, đổ thuốc vào miệng tôi, hay làm bất cứ việc gì để chấm dứt nỗi cùng khổ mà tôi đang phải chịu đựng!”

Nhưng Joni vẫn sống sót và tiếp tục vươn lên tìm ra mặt phải của nghịch cảnh, có một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ. Cô nói, “Tôi đã khám phá được nhiều điều tốt đẹp sau khi tôi bị tàn tật.” Quan trọng hơn, sau nhiều năm, Joni đã giúp và tác động đến cuộc sống của hàng ngàn người khắp nơi trên thế giới.

Đầu tiên, Joni học cách bù đắp cho sự tật nguyền của mình. Với bản tính sáng tạo, cô học cách dùng miệng giữ cọ để vẽ và tô màu. Cô dần dần phát triển tài năng và tạo ra những tác phẩm nghệ thuật, mà dù với cách đánh giá nào, thì cũng là một thành công vĩ đại. Cô bắt đầu bán những tác phẩm của mình và trở nên tự lập.

Joni cũng trở thành diễn giả, tác giả và diễn viên được săn đón, cô đóng vai chính mình trong bộ phim Joni do hãng World Wide Pictures sản xuất năm 1978 kể về cuộc đời cô. Cô còn viết một số sách trong đó có Holiness in Hidden Places (Điều Kỳ Diệu ở Những Nơi Bí Ẩn), tự truyện Joni, và nhiều tựa sách cho thiếu nhi. Nhưng sứ mệnh mà cô yêu thích nhất và được biết đến nhiều nhất chính là trở thành đại sứ của cộng đồng những người tàn tật.

Năm 1979, Joni chuyển đến California, lập nên một tổ chức dành cho những người tàn tật trên toàn thế giới. Cô gọi tổ chức này là Joni và Những Người Bạn (Tổ chức JAF), nơi cô làm theo lời răn của Chúa trong kinh thánh Luke 14:13: “…hãy đến với những người nghèo, người tàn tật, người khuyết tật, người mù. Và con sẽ nhận được ơn phước.”

Joni quá hiểu nỗi cô đơn và bị xa lánh mà những người tàn tật phải đối mặt, và chỉ ít lâu sau, tổ chức của cô đã đón nhận đông đảo cuộc gọi giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần cho những người tàn tật. Thông qua tổ chức JAF, Joni phát hành một chương trình truyền thanh dài 5 phút mang tên Joni và Những Người Bạn, chương trình được đón nghe hàng ngày trên khắp thế giới. Với vai trò đại sứ cho những người tàn tật, cô được Tổng thống bổ nhiệm vào Hội đồng quốc gia về người tàn tật. Joni cũng khởi xướng chương trình Xe lăn cho thế giới, một chương trình sửa chữa xe lăn cũ và phân phát cho các nước đang phát triển.

Joni Eareckson Tada là ví dụ nổi bật về cách mà một người biến trải nghiệm bi thảm nhất trong cuộc đời mình thành động lực sống. Giống như hai người đàn ông bị liệt tham gia cuộc thảo luận sau vở kịch Vậy Đây Là Cuộc Sống của Ai?, Joni nhìn lại sự việc xảy ra vào buổi chiều tháng bảy năm 1967 đó không hối tiếc, không cay nghiệt. Cô tin điều đó đã dẫn dắt cô đến những nơi cô chưa từng đến, gặp những người cô chưa từng gặp và vươn tới những thành quả cô chưa từng đạt được. Chính nhờ những điều đó, vụ tai nạn đã mang đến cho cô những thử thách mới và cả ý nghĩa lớn lao hơn trong cuộc sống.

Suy ngẫm về định mệnh của Billy Bob Harrell cùng những người trúng xổ số khác, khi đem so sánh với những người như Joni Eareckson Tada hay Julio Iglesias, ta sẽ thấy vô số câu hỏi gợi nên trong đầu về cuộc sống của chính mình. Những gì xảy ra không thể tự nó định đoạt hạnh phúc, thành công trong tương lai của mỗi chúng ta. Những câu chuyện của họ hé lộ một điều quan trọng hơn và mạnh mẽ hơn bất kỳ hoàn cảnh nào mà ta gặp phải hôm nay, chính điều đó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của chúng ta ngày mai. Nhưng “điều đó” là điều gì?

BÀI HỌC TỪ NGƯỜI NÔNG DÂN THEO ĐẠO LÃO

Không  việc tốt hay xấutất cả đều do suy nghĩ  ra. ” – William Shakespeare

Triết lý đạo Lão xa xưa của người Trung Hoa giúp ta có cái nhìn sâu sắc hơn để hiểu rõ sự khác biệt giữa câu chuyện của Billy Bob Harrell và Joni Eareckson Tada.

Đạo Lão xuất hiện vào thế kỷ IV trước Công nguyên qua lời dạy của một người tên là Lão Tử – tác giả của Đạo Đức Kinh – học thuyết của tư tưởng đạo Lão. Một trong những hình tượng được dùng nhiều nhất trong  đạo Lão là nước. Nước là hình ảnh đặc trưng trong đạo Lão bởi cốt lõi của đạo Lão chính là quan niệm cuộc sống như nước sông chảy không ngừng.

Người theo đạo Lão chấp nhận rằng có khi nước chảy đưa ta đến những nơi ta không mong đến, và gặp những điều ta luôn muốn tránh. Nhưng đạo Lão đưa ra một thông điệp của hy vọng; hy vọng dù ta biết rằng không phải lúc nào mình cũng can thiệp được vào dòng chảy của sự kiện, nhưng lúc nào ta cũng có thể kiểm soát được suy nghĩ và niềm tin của chính mình, và việc điều khiển tư duy chắc chắn mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì xảy đến.

Đạo Lão cũng dạy ta cách nhìn nhận những sự kiện trong cuộc sống nhưng không phán xét, không suy diễn. Theo đạo Lão, không có việc gì tự nó tốt hay xấu. Điều này nghe có vẻ khác thường, mặc dù những gì  phản ánh từ cuộc đời của Billy Bob Harrell và Joni Eareckson Tada không quá khác thường. Câu chuyện ngụ ngôn Tái ông thất mã sẽ giải thích điều này một cách hay nhất.

Tái ông là một người nông dân theo đạo Lão, sống trong một ngôi làng hẻo lánh ở một vùng xa xôi nhất của Trung Quốc. Tuy không giàu có, nhưng ông bằng lòng với cuộc sống hiện tại của mình, một mảnh đất nhỏ để trồng trọt cùng vợ và con trai. Một ngày nọ, có con ngựa hoang phi thẳng vào đất của ông, nhảy qua hàng rào và bắt đầu ăn cỏ trên cánh đồng. Theo luật địa phương, con ngựa lúc ấy thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông và gia đình. Con trai của ông rất háo hức, nhưng người cha vỗ vai con và bảo, “Đừng vội phán xét! Ai biết đây là phúc hay họa?”

Ngày hôm sau con ngựa nhảy ra khỏi cánh đồng và phóng đi mất. Con trai người nông dân vô cùng buồn bã. Người cha lại nói, “Đừng vội phán xét! Ai biết đây là phúc hay họa?”

Ba ngày sau, con ngựa quay lại cùng với bốn con ngựa cái. Người con trai không thể tin vào vận đỏ của gia đình, cậu hét lên, “Chúng ta giàu to rồi!”, nhưng một lần nữa cha cậu lại bảo, “Đừng vội phán xét! Ai biết đây là phúc hay họa?”.

Tuần kế tiếp, trong khi cưỡi một trong những con ngựa mới, cậu con trai bị ngã gãy chân. Người nông dân bèn chạy đi tìm thầy lang. Cậu nhanh chóng được thầy lang và cha mình săn sóc, nhưng cậu không ngừng càm ràm, than thân trách phận. Tái ông lấy khăn vắt nước ấm lau mồ hôi trên trán cho con, nhìn thẳng vào mắt con và trấn an một lần nữa, “Con trai, đừng vội phán xét. Ai biết đây là phúc hay họa?”

Một tuần sau, chiến tranh nổ ra trong vùng, quan quân chiêu mộ binh sĩ đi vào làng và buộc tất cả thanh niên đủ tuổi nhập ngũ, tất cả, ngoại trừ một người không thể chiến đấu vì bị gãy chân!

Câu chuyện Tái ông thất mã không đơn thuần là một truyện ngụ ngôn xa xưa; nó hàm chứa một bài học đơn giản nhưng mang tính sống còn trong hành trình đi tìm mặt phải: vào cái ngày mà một việc gì đó xảy đến, thậm chí trong nhiều tuần, nhiều tháng hay nhiều năm tiếp theo, ta vẫn chưa thể biết chính xác sự việc đó quan trọng như thế nào đối với phần đời còn lại của ta.

Một ví dụ khác về bài học Tái ông thất mã xảy ra trong Giải vô địch đánh gôn mở rộng của Anh vào tháng bảy năm 2008. Khi Padraig Harrington bị chấn thương cổ tay trong quá trình thi đấu, anh không hề biết rằng chấn thương đó là điều rủi hóa may. Một ngày trước khi vòng thi đấu bắt đầu, Harrington nói cổ tay của anh đau đến mức anh đã nghĩ đến việc anh có thể không thi đấu được. Giải Anh Mở rộng là giải lâu đời nhất trong bốn giải gôn lớn dành cho nam, tính từ năm 1860. Chức vô địch năm 2008 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Harrington vì anh đang là đương kim vô địch và viễn cảnh không thể thi đấu là một cú sốc lớn.

Tuy nhiên, sự cố chấn thương cổ tay gần như khiến Harrington ngừng thi đấu, theo anh, lại đóng vai trò to lớn trong việc anh trở thành người Châu Âu đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch sau James Braid năm 1906. Harrington phát biểu sau khi chiến thắng, “Vết thương này đã giúp tôi cảm thấy thư giãn. Rõ ràng là nó khiến tôi phải gạt mọi ý định về việc bảo vệ danh hiệu sang một bên…Chính việc bạn là nhà vô địch giải mở rộng hay một giải lớn nào đó, và phải luôn chứng tỏ mình, sẽ trở thành một gánh nặng. Sự cố chấn thương đã tháo gỡ cho tôi nhiều áp lực và căng thẳng. Một cơ hội thư giãn rất tốt.”

Harrington tiếp tục phân tích về mặt phải của việc anh bị chấn thương. Để bảo đảm an toàn cho cổ tay, anh chỉ có thể chơi chín lỗ trong lúc tập luyện trước khi giải Mở rộng bắt đầu, điều đó có nghĩa là anh cực kỳ khỏe khoắn trước khi bước vào giải thi đấu căng thẳng kéo dài trong suốt một tuần. “(Chấn thương) cổ tay thật sự là vị cứu tinh của tôi.”

Đôi khi mặt phải đến nhanh và rõ ràng, như những gì Padraig Harrington khám phá ra. Trong những trường hợp khác, có thể phải đến nhiều tháng, nhiều năm hoặc thậm chí cả đời mới tìm được mặt phải nằm ẩn sau một thử thách to lớn.

VƯƠN TỚI TẦM CAO

Ngày 14 tháng 12 năm 1931, mọi người tụ tập trước câu lạc bộ Reading Aero ngưỡng mộ theo dõi  người phi công trẻ tài năng của Không lực Hoàng gia Anh (RAF), chỉ mới 23 tuổi, trình diễn pha nhào lộn tầm tháp rồi đáp xuống sân bay. Sự ngưỡng mộ nhanh chóng biến thành nỗi kinh hoàng khi chiếc máy bay vừa hoàn tất một pha biểu diễn, đầu cánh bên trái của nó vô tình chạm đất, chiếc máy bay lộn nhiều vòng rồi đâm sầm xuống. Xe cứu thương nhanh chóng có mặt sơ cứu người phi công, nhưng anh đã bị thương trầm trọng. Hai chân anh dập nát.

Người phi công được cấp tốc đưa đến bệnh viện và may mắn được một trong những bác sĩ phẫu thuật lỗi lạc thời đó, ông Leonard Joyce, thăm khám. Chấn thương nghiêm trọng đến mức ngay cả bác sĩ Joyce cũng không thể làm gì khác. Phương án duy nhất lúc đó là cắt bỏ hai chân của người phi công, một bên dưới gối một chút và bên kia trên gối một chút.

Những ngày sau vụ tai nạn, người phi công viết vào nhật ký của mình: “Bị rơi sau khi nhào lộn gần mặt đất. Một pha biểu diễn tồi.” Anh đã không ngờ rằng việc bị mất cả hai chân, những năm sau đó, lại giúp anh trở thành phi công chiến đấu huyền thoại của RAF trong Thế chiến thứ hai và nhờ đó anh được phong tước Hiệp sĩ. Tuy nhiên, quan trọng hơn, chính tai nạn đã cướp đi đôi chân của anh, một ngày nọ lại giúp anh thoát chết.

Douglas Bader từng là một vận động viên thể thao nổi bật. Anh chơi bóng bầu dục cho Harlequins và, theo một số bài báo, anh có triển vọng thi đấu ở đẳng cấp quốc tế. Anh còn là một cầu thủ crikê giỏi. Những tưởng anh không chịu đựng nổi thử thách bị mất đi đôi chân, nhưng Bader chi tập trung vào hai mục tiêu cụ thể – đi lại được và bay. Dù những cơn đau đớn triền miên buộc anh phải dùng morphine, nhưng Bader vẫn kiên cường và chiến đấu không mệt mỏi. Chỉ trong sáu tháng, anh đã đạt được mục tiêu của mình. Anh không chỉ có thể đi lại – không cần trợ giúp – mà còn có thể khiêu vũ và chơi gôn. Và, đến tháng 6 năm 1932, anh lại lái máy bay. Nhưng dù với nỗ lực kiên cường, vào tháng 4 năm 1933, anh bị buộc giải ngũ khỏi RAF.

Thử thách mà anh phải chịu đựng nhanh chóng hé lộ mặt phải của nó. Thời gian ở trung tâm hồi sức đã giúp anh làm quen với một nữ y tá trẻ đẹp, Thelma Edwards, người mà anh cưới làm vợ vào tháng 10 năm 1933 và vẫn một lòng chung thủy cho đến một lòng chung thủy cho đến khi cô qua đời nhiều năm sau đó.

Sáu năm sau khi Bader bị buộc giải ngũ, Châu Âu bị đẩy vào một cuộc chiến chưa từng thấy. Bader quyết định góp sức trong cuộc chiến và tận dụng mọi mối quan hệ cũ để được nhập ngũ trở lại. Do nhu cầu cao về phi công chiến đấu, RAF chấp nhận đơn xin nhập ngũ của anh và chỉ sau một khóa đào tạo bổ túc ngắn về những loại máy bay chiến đấu mới nhất, bao gồm Spitfires và Hurricanes, anh được phép cầm lái. Khi ấy anh đã 29 tuổi, lớn hơn nhiều so với hầu hết các phi công khác, và anh phải đeo chân giả, nhưng Bader đã chứng tỏ anh là một trong những phi công chiến đấu giỏi nhất của RAF trên mặt trận nước Anh.

Đến tháng 8 năm 1941, Bader đã bắn hạ 22 máy bay Đức. Chỉ có bốn phi công khác của RAF hạ được nhiều máy bay địch hơn anh. Điều  đáng nói là, khi ta xem xét mặt phải của vấn đề, ta sẽ nhận ra thành công của Bader không những không bị cản trở bởi việc anh không có chân, mà quan trọng hơn, thành công đó có được bởi vì anh không có chân! Một điều cần lưu ý trong không chiến là khi người phi công lấy lại thăng bằng sau cú nhào lộn tốc độ cao, thì máu bị rút từ não ra tứ chi khiến họ bị bất tinh tạm thời. Nhưng vì Bader không có chân, não của anh không bị rút nhiều máu như người bình thường. Kết quả là anh tỉnh táo lâu hơn nhiều, một lợi thế đáng kể so với các phi công địch có cơ thể lành lặn mà anh đang chiến đấu.

Nhưng, mặt phải mới thật sự xuất hiện vào ngày 9 tháng 8 năm 1941 khi chiếc phi cơ của anh va chạm trên không với một chiếc Messerschmidt trên bầu trời Le Touquet nước Pháp. Ngay lúc định nhảy dù thoát hiểm thì Bader phát hiện ra chân giả bên phải của anh bị mắc kẹt. Chiếc phi cơ đang trên đà lao thẳng xuống đất. Bất kỳ người phi công nào khác sẽ phải chấp nhận hy sinh, nhưng vì Bader không có chân nên anh đã thoát chết ngày hôm đó. Khi chiếc đai giữ chân giả bị bật ra, thì Đại tá không quân – Hiệp sĩ Douglas Bader cũng kịp thời thoát khỏi chiếc phi cơ xấu số.

Người ta có thể lập luận rằng kết quả tích cực từ một hoàn cảnh tiêu cực không gì khác hơn là những kết quả ngẫu nhiên trong cuộc sống. Xét về cân bằng xác suất thì sẽ có một số người nhận được thành quả bằng cách này hay cách khác sau một bi kịch hay khủng hoảng cá nhân, tương tự, cũng sẽ có một số người phải gánh hậu quả và nỗi khốn khổ sau một thành tích hay thành công cá nhân. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, các nhà khoa học và tâm lý học đã bắt đầu khám phá ra rằng bí quyết để tìm thấy mặt phải, trong thực tế, không nằm ở hoàn cảnh mà nằm ở cách chúng ta phản ứng với hoàn cảnh đó. Mỗi thất bại trong cuộc sống, mỗi tổn thương đều có hai mặt nhưng chỉ có những người đặc biệt mới tìm ra được mặt phải.