CHUYỂN HÓA Ý NGHĨA CUỘC SỐNGNHỮNG CÂU HỎI THEN CHỐT

Cuối cùngcâu hỏi tại sao những điều tồi tệ lại xảy đến với người tốt chuyển thành câu hỏi khác hẳnChúng ta không còn thắc mắc tại sao chuyện đó lại xảy ra nữa phải tự hỏi mình sẽ phản ứng như thế nào  dự định làm  sau chuyện này. ” – Pierre Teilhard de Chardin

KHI JODI PLISZKA bị rụng hết tóc, cô chỉ mới hai mươi tuổi. Giờ đây, ở độ tuổi bốn mươi, cô là một phụ nữ có ngoại hình dễ nhìn, cởi mở và hoạt bất. Tuy nhiên, cô thừa nhận rằng mình đã hoàn toàn suy sụp tại thời điểm tóc cô rụng sạch sành sanh.

Chứng rụng tóc từng vùng (alopecia areata) xuất hiện ở 1/60 phụ nữ tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ, và 2/3 trong số đó phát bệnh ở tuổi vị thành niên. Từng chùm tóc rụng đi để lộ những mảng da đầu nhẵn nhụi. Người ta cho rằng nguyên nhân là do hệ thống miễn dịch bị rối loạn. Vì một lý do nào đó mà các bạch cầu phản ứng với tóc giống như với những siêu vi trùng và ra tay tiêu diệt khiến tóc rụng hàng loạt. Chứng rụng tóc từng vùng có nhiều dạng: đôi khi chỉ vài vùng nhỏ trên da đầu bị rụng tóc, nhưng trong trường hợp khác thì toàn bộ lông và tóc trên cơ thể rụng hết, như trường hợp của Jodi, nó được gọi là chứng rụng lông và tóc toàn thân (alopecia universalis). Toàn bộ lông và tóc gồm cả lông mày, lông mi, thậm chí lông mũi của cô đều bị rụng.

Chắc bạn cũng có thể tưởng tượng được, chứng rụng tóc là nỗi đau to lớn đối với bất kỳ phụ nữ nào, dù già hay trẻ. Một khi họ nhận ra tóc mình bắt đầu rụng và biết rằng nó có thể không bao giờ mọc lại thì họ khó mà quên được điều đó. Từ khoảnh khắc đó, cuộc sống của họ không còn như xưa nữa. Người mắc bệnh có thể cảm thấy mình bị nguyền rủa, nhưng cũng như bất cứ tổn thương nào khác, nó có thể trở thành một điều may mắn.

MẶT PHẢI CỦA CHỨNG RỤNG TÓC

Jodi Pliszka bị rụng sạch tóc và lông bởi căn bệnh rụng lông tóc toàn thân ở tuổi 20. Bây giờ Jodi là một cô gái hấp dẫn với đôi mắt to, long lanh và một nụ cười rạng rỡ nhưng cô không có tham vọng trở thành người mẫu. Thay vào đó, cô trở thành chuyên viên trị liệu và là tình nguyện viên của nhóm giúp đỡ người bị chứng rụng tóc và ung thư. Cô nói, “Tôi nhận ra việc chia sẻ những trải nghiệm cuộc sống của mình giúp tôi nhẹ nhõm hơn nhiều. Mỗi lần tôi mở lòng mình… tôi trở nên mạnh mẽ hơn.” Nhưng chính trong những hoạt động hàng ngày của mình, Jodi đã tìm thấy mặt phải lớn nhất cho căn bệnh rụng tóc của cô.

Cô nói, “Tôi rất thích tập thể dục nên sáng nào tôi cũng tập thể dục, trừ ngày Chủ Nhật.” Cô chạy bộ, đạp xe và những bài tập ngắn phối hợp ba môn thể thao khác nhau. Cô cũng thường xuyên luyện tập võ Tae Kwon Do cùng con gái Jessica. Jodi đã lên được đai đen còn con gái cô thì đai xanh. Họ thường đến trung tâm huấn luyện võ tự vệ và hai mẹ con cùng luyện tập với nhau. Và chính trong lúc luyện tập, Jodi nảy ra một ý tưởng đã đánh dấu sự thay đổi trong cuộc đời cô cũng như hàng ngàn người khác. Đó là một ý tưởng bất chợt mà có lẽ chỉ có những người phải đội tóc giả như Jodi mới nghĩ ra được.

Jodi nói, “Tôi đội tóc giả trong lúc tập Tae Kwon Do bởi tôi thích đội và cũng để hòa hợp với những người xung quanh khi tôi ở bên cạnh Jessica.” Nhưng chính vì đội tóc giả trong khi tập luyện, Jodi đã gặp phải một khó khăn thật sự và cũng là một cơ hội to lớn. Cô giải thích, “Tôi phát khổ vì mồ hôi đổ ra đầy tóc giả rồi chảy vào mắt tôi.” Càng nghĩ cô càng nhận ra đó là vấn đề mà hàng ngàn người, cả nam lẫn nữ, phải gánh chịu. Vì thế Jodi đặt ra mục tiêu phải tìm ra giải pháp và thiết kế một sản phẩm hữu ích cho vấn đề này. Ban đầu, cô nhét băng vệ sinh dưới tóc giả để thấm mồ hôi, hơi lôi thôi một chút nhưng rõ ràng là hiệu quả. Thế nên, Jodi dành ba năm tiếp theo để phát triển một sản phẩm có tác dụng tương tự, ngoài ra còn phải kín đáo và phù hợp cho người thường xuyên đội tóc giả.

Jodi gọi phát minh của mình là “Headline It!” và cho biết nó không chỉ giúp cho người bị chứng rụng tóc mà còn cho cả những ai phải đội tóc giả, nón rộng vành hay nón lưỡi trai. Năm 2006 cô đưa Headline It! tham gia chương trình truyền hình Nhà Phát Minh Hoa Kỳ và đã vượt qua hàng ngàn người khác để trở thành một trong mười hai ứng viên lọt vào vòng chung khảo. Bài thuyết trình của cô trước ban giám khảo chủ yếu là để bày tỏ niềm đam mê hơn là quảng cáo sản phẩm bởi hơn ai hết, Jodi biết quá rõ điều khác biệt mà Headline It! có thể mang lại không chỉ cho người bị rụng tóc mà còn cho bệnh nhân ung thư và bất cứ ai vì một lý do nào đó mà phải đội tóc giả. Sức lan tỏa từ chương trình truyền hình đã tạo đà cho cô tiến tới hiện thực hóa phát minh của mình, chuyển từ ý tưởng thành một sản phẩm có tiềm năng tạo nên sự khác biệt thật sự cho cuộc sống của rất nhiều người trên thế giới. Ngoài ra, sự xuất hiện của Jodi trên Nhà Phát Minh Hoa Kỳ đã nâng cao hình ảnh về những công việc khác của cô, và có lẽ quan trọng hơn hết, nó giúp người khác hiểu về nỗi thống khổ của những người bị chứng rụng tóc.

Nhìn lại cuộc đời mình từ khi căn bệnh ập đến, cô nói, “Tôi bị rụng hết tóc và Chúa đã hướng tôi vào con đường trở thành nhà trị liệu, tác giả, nhà sáng chế và người phát ngôn.” Cô nói giờ đây cô biết rằng “thử thách tạo ra sức mạnh tinh thần bên trong chúng ta. Chúng ta có thể lựa chọn trở thành người sống sót hoặc nạn nhân… Và tôi là người sống sót.”

Trong đoạn cuối quyển sách của mình, Jodi Pliszka viết, “Có lẽ việc rụng hết tóc không phải là điều đáng sợ như tôi từng nghĩ… không có món quà nào lớn hơn việc ta biết được mục đích sống của mình.” Đây là một trong những thay đổi có ý nghĩa nhất mà chứng rụng tóc đã mang đến cho cuộc đời Jodi, nó giúp cô lấy lại niềm tin và tìm được mục đích sống. Cô nói, “Tôi có tóc trong hai mươi năm, tôi không có tóc trong hơn hai mươi năm. Và tôi cảm thấy vui vì chặng đường mình đã qua trong suốt bốn mươi năm ấy.” Phương châm của cô cũng là lời kêu gọi dành cho những ai phải chịu đựng chứng rụng tóc, ung thư hay bất kỳ chứng bệnh nào khác: cuộc sống vẫn tiếp diễn sau khi bạn bị rụng tóc!

Câu nói của Jodi nhấn mạnh một thông điệp quan trọng. Cô nói, “Vẫn còn một cuộc sống thật sự sau khi mọi ảo tưởng qua đi, sau những lần niềm tin sụp đổ, sau tất cả những mảnh vỡ cuộc đời. Và sau cơn mưa trời lại sáng.” Đó còn là một thông điệp dành cho những ai hứng chịu tổn thương và thất bại: Cuộc sống vẫn  còn đó. Dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, dù cho bạn phải đối mặt với bất kỳ khó khăn nào, cuộc sống vẫn còn đó.

SỐ PHẬNNGHIỆP CHƯỚNG  CHÚA TRỜI

Jodi Pliszka thú nhận rằng khi những chùm tóc đầu tiên trên đầu cô rụng xuống thì nỗi sợ hãi và cảm giác đau khổ khiến cô muốn phát điên. Cô nhớ lại, “Tôi khóc lóc, la hét. Tôi nguyền rủa Chúa Trời… tôi muốn biết “Tại sao lại là tôi?” Nhưng khi chấp nhận thực trạng, Jodi nhận thấy mình đang đặt ra những câu hỏi khác, và chính những câu trả lời cho câu hỏi đó đã đưa cô đến những con đường mà cô không ngờ tới.

Khi tai họa ập đến, câu hỏi đầu tiên trong đầu chúng ta thường là “Tại sao lại là tôi?” hay “Tôi đã làm gì để bị như thế này?” Một số người sẽ khiến bạn tin rằng chúng ta tự gây ra những khủng hoảng cho bản thân mình. Bằng một cách nào đó bạn “hấp dẫn” chuyện đó đến với bạn (thông qua suy nghĩ hay nguồn năng lượng tiêu cực), hay đó là hệ quả nghiệp chướng của bạn, kết quả của những gì bạn đã làm hay nói trong quá khứ, hay thậm chí theo đạo Hindu là điều đã xảy ra từ kiếp trước. Một số người chắc chắn rằng bi kịch cá nhân là sự trừng phạt của Thượng Đế cho những tội lỗi ta đã gây ra, và nhiều người khác lại tin rằng những tổn thương là “thử thách” của Chúa. Nếu bạn tin vào Kinh thánh Job thì Chúa dùng những bi kịch như một phần trong phép thử tình yêu và lòng tôn kính của bạn đối với Ngài.

Như với bất kỳ câu hỏi mang tính thần học nào, không có một câu trả lời hợp lý nào cả, đó là lý do tại sao các vị linh mục hay giáo sĩ Do Thái thường trả lời những câu hỏi khó như “Tại sao Chúa lại cho phép tội ác và đau khổ tồn tại?” theo cách như thế này: “Có rất nhiều điều chúng ta không thể hiểu được tại sao, bởi Chúa đã sắp đặt theo một cách rất huyền bí.” Nhưng dù niềm tin tôn giáo của bạn là gì, chúng ta cũng không thể tránh né một thực tế rằng nếu chúng ta ước mong một thế giới có trật tự, luôn công bằng và đầy lẽ phải thì sẽ có lúc ta phải thất vọng. Đôi khi có vẻ như ta mắc kẹt trong một thế giới hỗn loạn, xung quanh toàn những thứ phi lý và bất công. Tôi tin rằng có những câu trả lời thật sự và những câu trả lời đó đều nằm ở mặt phải. Để tìm được chúng, chúng ta cần đặt ra những câu hỏi rất khác biệt.

NHỮNG CÂU HỎI THEN CHỐT

Trong Phần Một, chúng ta đã biết rằng rất hiếm có chuyện mặc nhiên tốt hay xấu trong cuộc sống. Trúng số có thể dẫn đến những điều tồi tệ và thậm chí là cái chết, trong khi việc bị mất đi công việc kinh doanh hay kế sinh nhai lại có thể trở thành nhân tố dẫn tới sự thành công của một người. Điểm cốt yếu khiến cho một việc xảy đến với chúng ta là một điều lành hay điều dữ thường không nằm ở hoàn cảnh mà ở cách chúng ta phản ứng với sự việc đó. Có một điều chắc chắn rằng: chúng ta sẽ rất khó chuyển thất bại thành cơ hội chỉ bằng những câu hỏi không hữu ích mà chỉ mang đến đau khổ, đại loại như “Tại sao lại là tôi?”.

Bộ não con người sẽ tìm được câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào chúng ta đặt ra về bất cứ sự việc nào trong cuộc sống. Ví dụ, nếu ta hỏi “Tại sao điều này xảy đến với tôi?” thì bộ não chúng ta sẽ đưa ra một loạt câu trả lời có thể có: Tại vì bạn vụng về! Tại vì bạn ngu dốt! Tại vì bạn bị nguyền rủa! Tại vì bạn không làm được việc gì ra hồn! Bộ não chúng ta sẽ đưa ra mọi câu trả lời để giải thích cho các tình huống khó khăn mà ta gặp phải. Nhưng, điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách chuyển hóa ý nghĩa của thất bại bằng cách đặt ra những câu hỏi khác? Cuộc sống chúng ta sẽ thay đổi như thế nào nếu ta có thói quen đặt ra những câu hỏi như:

“Mặt tốt của sự việc này là gì?” hoặc

“Chuyện này có thể mang đến điều tốt đẹp gì?” hoặc

“Tôi có thể rút ra được bài học gì để mang lại lợi ích cho bản thân tôi?” hoặc

“Tôi có thể rút ra được bài học gì để mang lại lợi ích cho người khác?” hoặc

“Tôi có thể làm gì ngay lúc này để biến nó thành lợi thế cho mình?”

TIÊU ĐIỂM XANH

‘‘Để giải quyết những vấn đề của ngày hôm naychúng ta phải tập trung vào ngày mai. ” – Erik Nupponen

Một phụ nữ ngồi ở bàn làm việc. Đôi mắt cô sưng mọng và cô không thể cầm được nước mắt. Một người đàn ông quàng tay qua vai cô vỗ về. Từng người một đến bên người phụ nữ này để bày tỏ sự cảm thông, an ủi. Vào thời điểm đó, cô mang một nỗi sầu khôn nguôi. Cô vừa mới bị mất 223.000 bảng!

Nói chính xác hơn là cô vừa trúng 27.000 bảng nhưng trong tâm trí cô lúc này, cô chỉ nghĩ đến việc mình vừa bị mất 223.000 bảng. Cô tham gia vào trò chơi truyền hình Thỏa Thuận hay Không (Deal or No Deal) và hàng triệu người xem tivi đã chứng kiến sự tiếc nuối của cô. Chuyện là cô đã mở chiếc hộp cuối cùng của trò chơi này và phát hiện rằng lẽ ra mình sẽ trúng 250.000 bảng nhưng cô đã lựa chọn “thỏa thuận” trước đó và chấp nhận số tiền mà ngân hàng đưa ra: 27.000 bảng!

Nếu ai đó nhận được tấm ngân phiếu trị giá 27.000 bảng, chắc hẳn người đó sẽ phát điên vì sung sướng. Tuy nhiên, sự thật là cảm xúc của chúng ta không phụ thuộc vào những gì xảy ra mà hoàn toàn là kết quả của những gì chúng ta quan tâm. Một trong những đặc điểm chung của những người tìm ra mặt phải là họ đã học được cách phát triển cái gọi là “tiêu điểm xanh”.

Bất kể bạn đang ngồi ở đâu, hãy thử làm bài tập đơn giản sau:

1.         Nhìn kỹ mọi thứ xung quanh bạn và chú ý đến những vật màu nâu. Hãy cố ghi nhớ những thứ màu nâu mà bạn nhìn thấy, dù là nâu nhạt hay nâu đậm.

2.         Sau đó, nhắm kín mắt lại, không nhìn lén và hãy cố gắng nhớ lại những vật… màu xanh mà bạn nhìn thấy.

Hầu hết mọi người đều bối rối. Họ quá tập trung vào những vật màu nâu đến nỗi họ không để ý đến những vật màu xanh. Điều này minh họa cho những gì mà nhiều người trong chúng ta trải qua trong cuộc sống, vào lúc này hay lúc khác. Một người chỉ cho ta xem một loại xe hơi hay máy tính nào đấy, và rồi ta bắt đầu để ý thấy nó khắp mọi nơi. Thật ra là nó luôn ở đó, nhưng chúng ta chỉ nhận ra nó khi tâm trí ta tập trung vào nó. Tương tự, đôi khi chúng ta cho phép mình quá tập trung vào những việc tiêu cực trong cuộc sống (màu nâu) đến nỗi chúng ta không chú ý đến bất kỳ sự việc tích cực (màu xanh) nào.

Người phụ nữ trúng 27.000 bảng trong trò chơi Thỏa Thuận hay Không là một ví dụ điển hình. Cô quá tập trung vào việc mất đi cơ hội trúng 250.000 bảng thay vì tập trung vào sự thật là cô đã trúng 27.000 bảng. Những người có thể chuyển bại thành thắng đều luyện tập “tiêu điểm xanh”. Khi phải đối mặt với khó khăn và qua những giai đoạn biến đổi, họ luôn nỗ lực tìm kiếm những vật màu xanh trong cuộc sống. Tiêu điểm xanh có nghĩa là không bao giờ nhìn lại phía sau, trừ khi ta có thể rút ra bài học từ quá khứ. Điều này có nghĩa là phải luôn tập trung nhìn về phía trước. Những người với “tiêu điểm xanh” không bao giờ bận tâm về những gì đã mất mà chỉ chú tâm vào những gì có thể gặt hái được. Họ không bao giờ nghĩ về những hạn chế, mà chỉ nghĩ đến những khả năng. Trong mỗi sự việc, họ luôn tìm cách chuyển hóa ý nghĩa của hoàn cảnh và tích cực tìm kiếm những lợi ích đi kèm với sự việc đó.

NGHỆ THUẬT CHUYỂN HÓA Ý NGHĨA

Ý nghĩa của mọi trải nghiệm trong cuộc sống đều phụ thuộc vào cách chúng ta nhìn nhận sự việc đó. Khi có bất kỳ chuyện gì xảy đến với ta, chúng ta có thể lựa chọn ý nghĩa của nó; chúng ta có thể quyết định gán cho nó một ý nghĩa tích cực. Ví dụ, khi một người bị mất việc, người đó có thể cho rằng điều đó phản ánh tiêu cực về khả năng và tính cách của họ, bằng chứng của việc họ đã thất bại. Thậm chí họ còn tự thuyết phục bản thân rằng mình sẽ không bao giờ có thể tìm được việc làm khác, mà nếu có được đi chăng nữa thì cũng không tốt bằng công việc cũ. Hoặc họ có thể xem đây là một cơ hội để làm một công việc khác, mới mẻ và đầy hứng khởi. Một số người còn nghĩ rằng đó là cơ hội để họ khởi nghiệp kinh doanh.

Một số người dường như có sở trường về việc chuyển hóa ý nghĩa của hoàn cảnh. Diễn viên hài, tác giả, nhà phát minh, và chính trị gia là một số ngành nghề đòi hỏi chúng ta phải liên tục chuyển hóa ý nghĩa của sự việc. Ví dụ, những diễn viên hài nổi tiếng thường là những người quan sát cuộc sống một cách tinh tế và luôn tự hỏi “Chuyện này có gì hài hước?” hay “Yếu tố nào có thể xem là hài hước trong việc này?” Vào đầu những năm 1970, trong quá trình làm bộ phim truyền hình nhiều tập Monty Python’s Flying Circus (Rạp Xiếc Bay của Monty Python), John Cleese cùng các thành viên khác của nhóm Monty Python nhận phòng tại khách sạn Gleneagles ở Torquay. Người quản lý khách sạn, một người đàn ông có tên là Donald Sinclair, đã tỏ ra là một người khá thô lỗ và lập dị. Michael Palin nói, “Ngay từ đầu ông ấy đã xem chúng tôi như một mối phiền hà lớn.” Ông ấy ném bảng lịch trình xe buýt cho khách khi họ dám mở miệng hỏi giờ của chuyến xe buýt tiếp theo; ông ấy càm ràm về cách Terry Gilliam ngồi vào bàn ăn và quăng va-li của Eric Idie ra khỏi khách sạn vì “lỡ trong đó có bom hẹn giờ thì sao!” John Cleese chú ý tất cả các chi tiết đó và lấy cảm hứng viết vở hài kịch truyền hình Fawlty Towers (Những Tòa Tháp Fawlty) hết sức thành công.

Tương tự, trong loạt phim truyền hình Only Fools And Horses (Chỉ Có Những Kẻ Ngốc và Những Con Ngựa), soạn giả John Sullivan đã dùng rất nhiều yếu tố có thật trong toàn bộ cốt truyện của mình. Một trong những cảnh hài hước nhất nằm trong một tập phim ở phần hai có tên là A Touch Of Glass (Mảnh Thủy Tinh) – cảnh đèn chùm. Cảnh trong phim được dàn dựng dựa trên câu chuyện có thật do cha Sullivan kể lại cho ông nghe về những ngày ông còn làm thợ sửa ống nước vào những năm 1930. Cha của Sullivan là một người trong nhóm thợ có nhiệm vụ lắp đặt hệ thống sưởi mới cho một căn nhà sang trọng. Để đi đường ống mới, họ phải di dời một số đèn chùm. Trong khi một số người đứng bên dưới một chiếc đèn chùm và căng tấm vải lớn để sẵn sàng đón lấy nó thì một người khác trong nhóm lại đi tháo một chiếc đèn chùm khác khiến nó rơi xuống đất và vỡ tan tành. Khi cha của Sullivan kể cho anh nghe câu chuyện này, giọng của ông rất nghiêm túc vì ngày hôm đó có rất nhiều công nhân bị buộc thôi việc. Nhưng ngay lập tức Sullivan nhận ra khía cạnh hài hước và toàn bộ tập phim được viết xoay quanh cảnh tượng đó.

Khi cảnh sát ở Manhattan yêu cầu một chàng trai trẻ có mái tóc xoăn lái chiếc xe hơi táp vào lề, họ không hề biết rằng anh chính là Malcolm Gladwell, tác giả của hai quyển sách bán chạy nhất The Tipping Point (Điểm Bùng Phát) và Blink! (Trong Chớp Mắt!). Cảnh sát đang truy tìm một kẻ phạm tội hiếp dâm, và theo viên cảnh sát, thì Gladwell giống với bản miêu tả hình dạng của tên đó. Họ thẩm vấn Gladwell khoảng hai mươi phút trước khi đồng ý để anh đi. Hóa ra là khi họ xem lại bản miêu tả thì người đàn ông họ đang tìm kiếm cao to hơn và trẻ hơn Gladwell khoảng mười lăm tuổi. Gladwell nói “Tôi và tên tội phạm chỉ có một điểm chung duy nhất là cái đầu to đầy tóc xoăn.” Đây chỉ là kiểu “dừng xe và lục soát” thiếu suy nghĩ có thể làm tăng thêm sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa cảnh sát với cộng đồng. Tuy nhiên, Gladwell chẳng lấy làm bận tâm. Anh trở nên tư lự và tự hỏi lý do tại sao viên cảnh sát có thể nhận lầm anh với kẻ hãm hiếp trong khi giữa họ có quá nhiều điểm khác biệt theo như bản mô tả tội phạm.

Anh suy nghĩ về sức mạnh kỳ lạ của ấn tượng đầu tiên và điều này khiến anh tìm hiểu và viết ra quyển sách Blink! (Trong Chớp Mắt). Trong lời cảm ơn của quyển sách, người mà Gladwell bày tỏ sự biết ơn (với một chút bông đùa) chính là những viên cảnh sát đã buộc anh dừng xe và lãng phí của anh nửa tiếng đồng hồ trong ngày hôm ấy, bởi đó là sự kiện tình cờ đã kích thích suy nghĩ của anh và cuối cùng dẫn dắt anh viết ra quyển sách mới. Gladwell còn khẳng định rằng nếu anh không bị buộc dừng xe lại ngày hôm đó thì chắc quyển sách này đã không ra đời.

TM KIẾM NHỮNG ĐIỀU  LỢI

Maeve Binchy là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất trên thế giới, trong đó có tác phẩm Circle Of Friends (Vòng Tròn Tình Bạn) đã được Hollywood dựng thành phim. Năm 2002, Maeve bị chứng suy tim buộc cô phải nhập viện mười ngày, và cô phải dùng thuốc trợ tim từ đó đến nay. Cô từng phát biểu trong một cuộc phỏng vấn của tờ Daily Mail rằng, “Trước khi chuyện đó xảy ra, nếu bạn hỏi tôi cuộc đời sẽ ra sao sau một sự kiện như thế thì chắc chắn tôi sẽ bảo rằng đời thật đáng buồn và ngắn ngủi.” Nhưng trong thực tế, cô đã nói rằng cuộc sống của cô từ khi mắc bệnh hoàn toàn ngược lại những gì cô nghĩ.

Maeve bắt tay vào tìm hiểu bệnh trạng của mình, các phương pháp chữa trị và chế độ ăn uống. Cô giảm lượng muối, ít ăn bơ và cắt bớt rượu bia. Hơn nữa, cô còn là người có niềm tin mạnh mẽ vào lối suy nghĩ tích cực, điều mà cô gọi là “bí quyết”. Thật vậy, thay vì sống trong đau khổ, Maeve tin rằng mình chưa bao giờ hạnh phúc đến thế. Và, quyển tiểu thuyết mới nhất của cô, Heart and Soul (Trái Tim và Linh Hồn) được lấy cảm hứng từ những cuộc đối thoại cô nghe được ở phòng chờ của bệnh viện. Một điều thú vị khác, Maeve Binchy còn là người lạc quan. Cô luôn suy nghĩ tích cực về cuộc sống. “Tôi không muốn sống một cuộc sống bị giới hạn và đầy lo lắng”, cô nói, “Nếu bạn thức dậy vào mỗi buổi sáng và nghĩ ngay đến bệnh tật của mình, phải chăng bạn đang mong chờ một ngày như thế?”

Bí quyết của việc chuyển hóa ý nghĩa sự việc tương tự thói quen tích cực tìm kiếm cơ hội của các doanh nhân. Chỉ là khi bạn nhìn nhận hoàn cảnh khác đi, bạn đang tìm kiếm lợi ích hơn là cơ hội. Một câu hỏi then chốt mà những người chuyển hóa ý nghĩa sự việc theo hướng tích cực thường tự hỏi bản thân khi họ đối mặt với khó khăn là “Việc này tốt ở điểm nào?” hoặc “Đâu là yếu tố tốt đẹp trong việc này?” Với những câu hỏi như thế, người ta nhìn nhận tình huống thông qua một lăng kính khác, từ đó họ sẽ nhận được kết quả khác nhau. Như bạn có thể đoán được, việc tìm kiếm lợi ích trong một tình huống căng thẳng là nét đặc trưng thường gặp ở những người lạc quan. Nghiên cứu cho thấy những người tích cực tìm điều tốt đẹp sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh nan y như ung thư thường sẽ chống chọi tốt hơn, ít buồn rầu hơn và chất lượng đời sống của họ cũng tốt hơn. Thú vị thay, đây không phải là điều chỉ xảy ra sau một khoảng thời gian dài. Trong nhiều trường hợp, người ta bắt đầu tìm kiếm điều tốt đẹp trong tổn thương hay bệnh tật từ rất sớm. Đôi khi đây lại là yếu tố quyết định vì càng sớm bắt tay vào việc tìm kiếm lợi ích bao nhiêu thì họ càng phát hiện ra lợi ích sớm bấy nhiêu.

CHUYỂN HÓA Ý NGHĨA CỦA VIỆC TINH GIẢM BIÊN CHẾ

Khi ITV và Granada nhận được sự chấp thuận cho đề xuất sáp nhập công ty của họ vào tháng 10 năm 2003 thì nhân viên của cả hai công ty đều biết sẽ có một cuộc tinh giảm biên chế. Là một trong những nhân viên ở Granada, Gemma stone cảm thấy không ít lo lắng khi cô nghe nhiều lời bàn tán râm ran. Cô nói, “Tôi có một đứa con trai chưa đầy hai tuổi và lại đang mang thai đứa kế tiếp. Tôi không thể tránh được suy nghĩ là liệu ai sẽ thuê tôi bây giờ?”

Nhưng Gemma không phải là người dễ dàng bị đánh gục. Cô nói, “Tôi suy ngẫm về hoàn cảnh hiện tại và nhận ra một cơ hội trong sự bất hạnh này.” Đây là cơ hội để cô theo đuổi ước mơ gây dựng một công ty riêng chuyên về tổ chức sự kiện. Cô nhớ lại, “Khi tôi mới mở công ty, sếp cũ của tôi ở LWT đã nhắc lại điều tôi từng nói trong lần phỏng vấn xin việc của tôi hồi trước. Khi được hỏi muốn làm gì trong vòng năm năm tới, tôi đã nói tôi muốn điều hành một công ty tổ chức sự kiện của riêng mình.”

Gemma thú nhận, “Thật lòng thì khi phỏng vấn tôi chỉ nói cho có vậy thôi. Tôi không nghĩ nhiều về điều đó. Nhưng rõ ràng là nó đã đọng lại trong tiềm thức của tôi.”

Gemma thành lập công ty Quản Lý Sự Kiện Rock và Ruby vào năm 2004, và đã có được một số khách hàng tên tuổi như Tesco, Ikea và Granada. Xây dựng một doanh nghiệp từ con số không chưa bao giờ đơn giản hay dễ dàng, nhưng Gemma đã thành công. Ngày nay, cô đang tận hưởng lợi ích của việc làm việc tại nhà và sự tự do dành thời gian cho gia đình thay vì phải tuân thủ khung thời gian cứng nhắc từ chín giờ sáng đến năm giờ chiều.

Khi nhìn lại khoảng thời gian cô bị mất việc, không còn nghi ngờ gì nữa, Gemma tin rằng có một mặt phải to lớn của sự việc này. Giờ đây cô nói, “Nhìn chung, đó là một điều tốt. Kinh nghiệm mà tôi đạt được trong quãng thời gian quán xuyến công ty thì cũng phải mất nhiều năm mới có được nếu tôi đi làm thuê cho một công ty khác – tôi có cơ hội tổ chức hàng loạt các sự kiện và làm việc với vô số người. Điều đó thật tuyệt vời!”

Với sự suy thoái kinh tế thời bấy giờ ở nước Anh, ngành quản lý sự kiện là một trong những ngành đầu tiên chịu ảnh hưởng, có lẽ là do việc tổ chức sự kiện thường được xem như một thứ “xa xỉ phẩm” hơn là “nhu yếu phẩm”. Nhưng Gemma vẫn giữ cái nhìn lạc quan vào tương lai. Dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, cô vẫn luôn tìm kiếm cơ hội và tin rằng mình có thể lật ngược tình thế. Mùa hè năm 2008, dự đoán là sẽ có khủng hoảng và để bảo vệ công ty, cô đã lập ra bộ phận chuyên tổ chức tiệc cho trẻ em, như một nguồn thu nhập mới thay thế. Với nhánh kinh doanh mới này, theo lời Gemma, doanh nghiệp của cô lên như diều gặp gió.

“Tôi là một người lạc quan”, Gemma tự nhận xét, “và còn là một người hành động. Tôi phát chán những người suốt ngày than vãn về số phận của mình nhưng chẳng làm gì để thay đổi nó cả. Tôi thật sự tin rằng chúng ta tạo ra vận mệnh của chính mình và với những mục tiêu rõ ràng, bạn hoàn toàn có thể đạt được những gì mình mong muốn trong cuộc sống.”

Người thành công luôn tìm cách chuyển hóa ý nghĩa của hoàn cảnh tiêu cực. Họ đặt ra những câu hỏi tích cực hướng tới tương lai, và chính những câu hỏi này chỉ ra những cơ hội tiềm ẩn trong khó khăn. Chuyển hóa ý nghĩa của sự việc là một quá trình tương đối đơn giản. Bạn chỉ cần lấy một câu nói tiêu cực như “Bị mất việc là một thảm họa đối với tôi” rồi biến nó thành một câu nói tích cực như “Đây là một cơ hội tuyệt vời để tôi suy xét lại những gì mình thật sự muốn làm trong đời.”

Có một câu chuyện đáng yêu về một cậu bé ao ước trở thành vận động viên bóng chày. Cậu mang gậy và bóng ra vườn nhà tập luyện. Cậu hét to với chính mình, “Lượt đánh cuối cùng! Đội nhà còn thiếu hai điểm nhưng lượt này đội khách đánh bóng và tất cả các góc đều có người. Liệu người đánh bóng có thực hiện được cú đánh ăn điểm trực tiếp và đem về chiến thắng hay không?” Cậu bé tung bóng lên không trung và vung chày hết sức, nhưng hụt. “Lần một”, cậu hô, “Người đánh bóng còn hai cơ hội nữa để thắng trận đấu.” Một lần nữa cậu tung quả bóng lên, vung chày, rồi lại hụt. Cậu bé hét to, “Lần hai. Giờ đây tất cả các cặp mắt đều dồn vào người đánh bóng, anh ấy chắc chắn sẽ đánh trúng bóng trong lần thứ ba.” Lần sau cùng, cậu bé tung bóng lên không trung, vung chày và lại hụt. Lực của cú đánh cuối cùng khiến cậu ngã nhào xuống đất. Rồi cậu bé đứng dậy, phủi bụi trên quần áo, nhặt bóng lên và nói, “Ôi! Thật là một tay ném bóng cừ khôi!”

Cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008 diễn ra giữa John McCain, một đảng viên Đảng Cộng hòa 72 tuổi và Barrack Obama, một người đàn ông da đen trẻ tuổi đại diện cho Đảng Dân chủ. Tuổi tác của họ là một yếu tố mà cả hai phía đều đưa vào chiến dịch vận động bầu cử của mình. Phía Cộng hòa cho rằng Obama còn quá trẻ và thiếu kinh nghiệm. Họ biện luận rằng McCain có kinh nghiệm và sự từng trải cần thiết để lãnh đạo quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Phía Dân chủ, ngược lại, đưa một góc nhìn khác về tuổi tác của các ứng viên. Họ chỉ ra sự thật rằng thống kê cho thấy có nhiều nguy cơ McCain sẽ qua đời trước khi kết thúc nhiệm kỳ của ông. Mặc dù Obama còn trẻ và tương đối thiếu kinh nghiệm, ông ấy lại có sức trẻ, năng lực và nhiệt huyết tràn đầy. Về việc Obama chưa có nhiều kinh nghiệm trong chính phủ thì họ nói rằng điều đó có nghĩa ông ấy sẽ là nhân vật lý tưởng để đem lại những thay đổi cần thiết. Vậy thì cách nhìn nào đúng? Cả hai đều đúng. Quyết định tùy thuộc vào việc bạn muốn nhìn nhận vấn đề theo cách nào.

NHỮNG BÀI HỌC ĐAU THƯƠNG CỦA VỊ GIÁO 

Vụ nổ xảy đến bất ngờ không báo trước. Một ánh sáng chói lòa, sau đó ngọn lửa bùng lên và khói mù mịt. Dan Ariely mắc kẹt trong một căn phòng nhanh chóng bị biến thành lò lửa. Anh chỉ mới mười tám tuổi và anh sắp chết cháy.

Giữa bốn bề là lửa, Dan nhận ra cách duy nhất để thoát chết là xông qua lửa. Anh nghe được tiếng ai đó gọi từ bên ngoài chỉ cho anh hướng thoát ra. Anh phóng qua ngọn lửa về phía cửa thoát hiểm. Khi đến được cánh cửa, quần áo anh cháy phừng phừng. Anh vứt giày, xé bỏ áo sơ mi, quần dài và chỉ chừa lại vớ và đồ lót. Khi nhìn xuống, bây giờ anh mới thấy những vết thương trên cơ thể mình, bàn tay phải của anh cháy đen, từng mảng da lớn bị tuột ra, treo lủng lẳng bên dưới cánh tay trái và toàn bộ cánh tay đó đã chuyển thành màu trắng. Nền nhà bằng đá dưới chân anh phủ đầy tro do phần da cháy của anh rơi xuống. Cơn đau ập đến khiến anh không thể nào chịu đựng nổi. Tất cả những gì anh có thể làm là nằm bất động trên sàn, cố giữ hơi thở và chờ đợi sự giúp đỡ.

Nhiều tháng sau vụ cháy, lần đầu tiên Dan Ariely đứng trước một tấm gương to để ngắm nhìn mình sau tai nạn. Chân anh bị băng bó từ trên xuống dưới, lưng gập về phía trước, hai cánh tay của anh cũng bị băng bó và buông thõng hai bên người. Anh nói, “Thân thể méo mó của tôi nhìn thật xa lạ và chính tôi cũng không nhận ra những gì từng thuộc về mình.” Thê thảm nhất là khuôn mặt. Nửa mặt bên phải của anh bị lột da gần hết, những miếng da lẫn với mô thịt màu đỏ và vàng dính lỏng lẻo trên mặt. Trông nó không khác gì một thứ được đúc từ sáp đủ màu và đang trong giai đoạn tan chảy. Đôi mắt tôi bị giật lé hẳn một bên. Mép miệng phải và mũi tôi bị cháy đen, biến dạng, tai phải của tôi cũng không khá gì hơn.”

70% cơ thể anh bị phỏng độ ba trong vụ tai nạn và anh phải nằm viện suốt ba năm trời cùng những lần điều trị đau đớn cực độ về thể xác lẫn tinh thần. Trong một bài viết cảm động Painful Lessons (Những Bài Học Đau Đớn) của anh, Ariely miêu tả quá trình chữa trị và những suy ngẫm về vụ tai nạn cùng những ảnh hưởng của nó lên cuộc đời anh. Hàng ngày, trong suốt ba năm (trừ những ngày anh trải qua phẫu thuật), Ariely đều phải “tắm trị liệu”. Anh được đặt vào một cái bồn đầy thuốc tím sát trùng, và ngay khi anh ngâm mình hoàn toàn trong nước, các y tá bắt đầu tháo băng trên người anh. Họ tiếp tục tháo từ từ cho đến khi tất cả băng được gỡ ra hết và thường họ mất tầm một tiếng đồng hồ để hoàn tất. Công việc đó, theo lời Ariely, là “đau đớn cực độ mỗi ngày”. Khi các y tá tháo băng xong, họ nhắc anh ra khỏi bồn và bôi lên người anh một lớp thuốc mỡ Siverol, rồi băng lại. Ngoài ra còn có vật lý trị liệu và một số phương pháp chữa trị khác nhưng mỗi ngày, suốt ba năm ròng ở bệnh viện, trong tâm trí anh luôn là nỗi kinh hãi của lần “tắm trị liệu” tiếp theo.

Trong buổi giới thiệu quyển sách bán chạy nhất của mình Predictably Irrational (Phi Lý Trí), Dan có đề cập đến việc anh bắt đầu có cái nhìn khác đi về cuộc sống và nhất là hành vi của con người sau vụ tai nạn, và điều này đã hướng anh bước vào con đường sự nghiệp mà có lẽ anh sẽ không chọn nếu không xảy ra vụ tai nạn kể trên. Sau khi được xuất viện, anh theo học bằng cử nhân Tâm Lý Nhận Thức ở Đại học Tel Aviv, rồi tiếp tục lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ trong cùng lĩnh vực ở Đại học Bắc California tại Chapel Hill. Sau đó anh lấy tiếp bằng Tiến sĩ Kinh Tế của Đại học Duke, nơi anh hiện là Giáo sư của Khoa Kinh Tế Học Hành Vi James B. Duke.

Ngày nay, Dan được biết đến như một nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế học hành vi, chuyên nghiên cứu về các yếu tố con người, xã hội, nhận thức và cảm xúc có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế, và về việc các yếu tố này tác động đến giá cả thị trường, lợi nhuận đầu tư và sự phân phối các nguồn lực ra sao. Tuy nhiên, niềm đam mê chính của ông lại là quan sát và xác định cách thức và lý do tại sao chúng ta đưa ra những quyết định trong cuộc sống. Ông nhận thấy các quyết định của chúng ta thường phi lý, nhưng đồng thời có thể dự đoán được. Ông cũng khám phá ra một số kiến thức thú vị về những yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của chúng ta nói riêng, và cả cuộc sống hàng ngày nói chung.      

Khi có dịp nói chuyện với ông, tôi nhận ra Dan Ariely là một người đàn ông nồng nhiệt, rộng lượng, sẵn sàng chia sẻ suy nghĩ và kinh nghiệm của mình. Ông có những hiểu biết hết sức sâu sắc liên quan đến khái niệm mặt phải. Ông nói, “Không còn nghi ngờ gì nữa, chính những thay đổi lớn lao trong cuộc sống đã làm thay đổi chúng ta. Nó thay đổi cách chúng ta suy nghĩ và những gì chúng ta quan tâm.” Trong cuộc đời ông, ông thừa nhận rằng có những thay đổi tích cực lâu dài mang tính “nền tảng” bắt nguồn từ chính vụ tai nạn đó, bao gồm “thay đổi về tính cách, cách tôi nhìn nhận bản thân, cách tôi nhìn nhận người khác, động lực, sở thích cá nhân và cả cách tôi phản ứng với những cơn đau thể xác.”

Ông tiếp tục giải thích về những trải nghiệm đã giúp ông “nhìn nhận cuộc sống thoải mái hơn – việc biết được cuộc đời này có thể trở nên kinh khủng như thế nào khiến cho những vấn đề nhỏ nhặt hàng ngày tôi gặp phải không còn quan trọng nữa, nếu không muốn nói là vô nghĩa.” Ông có động lực mạnh mẽ theo đuổi nghề dạy học là do những thay đổi trong cách ông nhìn đời sau vụ tai nạn. Ông nói đó là “một trải nghiệm mạnh mẽ, đau thương, và kéo dài nhưng nó vạch ra cho tôi “con đường” hiểu rõ bản thân và cả những người khác (và nó còn châm ngòi cho những ý tưởng nghiên cứu trong tôi)”.

Tôi rất ngại dùng từ “nạn nhân bị phỏng” để chỉ Dan Ariely; bởi rõ ràng ông không xem mình là một “nạn nhân”. Ông vừa triết lý vừa thực tế khi nói về trải nghiệm của mình. Ông nói, “Nhìn chung, tôi cố gắng nhìn nhận tình trạng thương tật của mình như một trải nghiệm khác, một trong nhiều điều đã tạo nên cuộc sống của tôi.”

Liệu ông có trở thành một người như ngày hôm nay, liệu ông có đạt được những thứ như ông đang có, nếu chất ma-giê không phát cháy và gây ra những vết phỏng khủng khiếp trên cơ thể ông cách đây nhiều năm? Dĩ nhiên là không. Bởi như Ariely nói, “chính những sự kiện lớn làm biến đổi cuộc đời chúng ta.” Ông không chắc cuộc đời mình sẽ tốt hơn hay không nếu ông không bị những chấn thương đó. Ba năm đau đớn cùng cực quả là “quá nhiều”. Tuy nhiên, ông khẳng định rằng có những lợi thế, những thay đổi tích cực, và chắc chắn tồn tại một mặt phải trong sự việc này. Giờ đây, ông có một người vợ xinh đẹp, và ông đang ở đỉnh cao sự nghiệp cũng như là một tác giả có sách bán chạy nhất.

Dù phải chịu đựng đau đớn mỗi ngày trong suốt ba năm, phải sống chung với sự đau đớn và bị hạn chế cử động, thậm chí phải đương đầu với những căng thẳng về tâm lý và cả xã hội vốn không thể tránh khỏi đối với một bệnh nhân bị phỏng, Ariely vẫn khám phá ra “một vài lợi ích”. Ông nói, “Khi nhìn lại, thật ngạc nhiên khi thấy cuộc sống của tôi có những chuyển biến tích cực đến thế! Hóa ra chuyện đó lại trở nên tốt hơn những gì mọi người mong đợi và chắc chắn hơn hẳn những gì tôi mong đợi.”

Bất kể thất bại và thay đổi nào xảy ra, dù là vấn đề sức khỏe, khủng hoảng tài chính hay tàn tật nghiêm trọng thì những cảm nhận của Jodi  Pliszka, Gemma stone và Dan Ariely đã hé lộ một khía cạnh quan trọng của mặt phải: khi biết cách đặt ra nhiều câu hỏi tạo động lực hơn và chuyển hóa ý nghĩa hoàn cảnh theo hướng tích cực, chúng ta sẽ thấy mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn những gì ta dự đoán.