ƯỚC VỌNG KHÔNG THÀNH VÀ NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI: TÌM KIẾM TƯƠNG LAI

“Tương lai thuộc về những người tin vào vẻ đẹp của ước mơ.”  – Eleanor Roosevelt

ĐÓ LÀ “câu chuyện của một người đàn ông có tất cả mọi thứ, nhưng lại tìm được điều còn hơn thế nữa.” Trong phim Regarding Henry (Chuyện về Henry), Harrison Ford đóng vai Henry Turner, một luật sư thành công, có địa vị. Anh bị chấn thương sọ não sau khi bị bắn vào đầu và ngực. Khả năng giao tiếp và cử động của anh đều bị ảnh hưởng, chấn thương còn khiến anh mất trí nhớ. Gần như không nhớ được gì cả, Henry phải xây dựng lại cuộc sống từ đầu bao gồm việc học lại mọi thứ, từ việc tập đi, cột dây giày cho đến học đọc và viết. Có một cảnh đặc biệt cảm động trong phim khi nhà vật lý trị liệu, do Bill Nunn đóng, đến thăm Henry tại nhà của anh ở Manhattan. Chương trình vật lý trị liệu đã kết thúc trước đó vài tuần nhưng nhà trị liệu, người đã trở thành bạn thân của Henry sau khi anh bị chấn thương, biết chuyện Henry cảm thấy suy sụp về cuộc sống mà anh đánh mất.

Trong phim, Henry đưa bia cho bạn uống rồi hai người đàn ông ngồi nói chuyện trong nhà bếp. Nhà vật lý trị liệu kể cho Henry nghe ông từng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và tường thuật lại những gì đã xảy ra trong trận bóng cuối cùng của ông. Quả bóng được chuyền đến chân ông để ghi bàn trong lúc ông bị chuồi bóng từ cả hai phía. Lúc đó ông nghe và cảm nhận được đầu gối mình kêu “bốp” một tiếng và ông biết rằng sự nghiệp cầu thủ của mình đã kết thúc. “Cuộc đời của tôi chấm dứt. Tôi đã chết”, ông nói với Henry, “Nhưng anh hãy hỏi là liệu tôi có bận tâm tới chuyện bị tật ở đầu gối không đi.” Henry gật gù lặp lại câu hỏi, “Ờ, vậy ông có bận tâm…” thì nhà trị liệu cắt lời anh, “Không! Không, tôi không quan tâm, Henry à. Không hề dù chỉ một giây. Hãy nhìn xem. Anh có thể đi lại được, anh có thể nói chuyện được. Chúng ta đang ngồi đây uống một loại bia rất ngon và đắt tiền. Và tôi góp phần vào việc này. Thế nên, không. Tôi không quan tâm chuyện mình bị tật ở đầu gối.”

Cảnh phim đó đã chuyển tải được toàn bộ thông điệp của bộ phim: ngay cả khi ước mơ của chúng ta bị mất đi thì vẫn còn đó một mặt phải, và nó sẽ đến cùng những ước mơ mới mẻ, khác lạ và nhất là ý nghĩa hơn. Những ai cho rằng chủ đề phim Regarding Henry chỉ gói gọn trong kịch bản do đạo diễn Jeffrey Jacob Abrams viết thì họ cần đọc quyển I Am The Central Park Jogger (Tôi Là Người Chạy Bộ ở Công Viên Trung Tâm) –  đã đề cập trong Phần Một – để hiểu rằng: thông điệp của bộ phim chỉ đơn thuần phản ánh lại những gì có khả năng xảy ra, thậm chí trong cả những bi kịch cuộc đời còn tệ hại hơn nhiều.

Con đường Julio Iglesias trở thành siêu sao nhạc Pop sau khi ước mơ cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp của anh tan tành chỉ là một trong rất nhiều ví dụ của việc làm thế nào mà những ước mơ tan vỡ lại được thay thế bằng những ước mơ khác, lớn lao hơn. Trong trường hợp của Iglesias, không ai dám trách nếu anh tỏ ra cay đắng, bực bội, và chán nản sau tai nạn. Anh có thể ngồi gặm nhấm nỗi buồn vì cuộc đời đã lừa dối anh và cướp đi ước mơ tuổi thơ của anh. Nhưng thay vào đó, Julio Iglesias đã chọn cách làm khác, anh chọn tập trung vào tương lai và bắt đầu thực hiện những gì đã đưa anh đến thành công rực rỡ của một người ca sĩ kiêm nhạc sĩ.

Mặc dù ước mơ tuổi thơ của Julio igiesias bất thành nhưng anh lại tìm ra mặt phải, và như Harland Sanders, tiếp tục phấn đấu để đạt được những điều anh thậm chí có nằm mơ cũng không thấy nếu như ước mơ ban đầu của anh không bị tước mất. Trên thực tế, rất nhiều người thành công nhất trong mọi lĩnh vực cuộc sống là những người đã từng đánh mất ước mơ, nhưng họ đã phấn đấu theo đuổi những ước mơ khác.

VANG MÃI TIẾNG NHẠC

‘‘Bạn không bao giờ quá già đến nỗi khổng thể đặt ra một mục tiêu khác hay mơ một ước mơ mới. ” – C. S. Lewis

Như tất cả mọi người thường nói, Elaine Rinaldi là một ví dụ về thần đồng thiếu niên. Lên bảy tuổi, cô bé đã gõ những nốt nhạc đầu tiên của bài Chopin trên chiếc dương cầm Kawai Nhật Bản trong căn nhà ở Westchester của cha mẹ cô. Mới từng đó tuổi mà mỗi ngày Elaine ngồi tập đàn ba bốn tiếng liên tục, nên với những ai biết về cô bé sẽ không lấy làm ngạc nhiên khi cô đoạt giải trong các cuộc thi địa phương và toàn bang. Cô giáo dạy piano của Elaine, Tiến sĩ Rosalina Sackstein, một giáo sư âm nhạc nổi tiếng ở Đại học Miami, nói về Elaine như “một trong những học sinh tài năng nhất của tôi”, và Tiến sĩ Sackstein cũng nói rõ thêm là từ trước đến nay, bà chỉ làm việc với “những người thật sự có tài năng, trí tuệ và thiên hướng”.

Khi Elaine 16 tuổi, cô chính thức biểu diễn lần đầu tiên trước công chúng trong vai trò nghệ sĩ dương cầm tại buổi hòa nhạc của đoàn giao hưởng thính phòng thành phố Fort Lauderdale. Năm 1985 cô được trao giải Hiệp Sĩ Bạc trong lĩnh vực âm nhạc. Cha mẹ cô cùng ông bà, chú bác, anh chị em và bạn bè, tất cả đều ngồi dưới hàng ghế khán thính giả. Người cha Leo của cô nhớ lại sự kiện đó với vẻ tự hào: “Bạn nghĩ xem, có rất nhiều đứa trẻ tài năng ở đó nhưng cháu lại giành được giải nhất!”

Elaine tiếp tục theo học trường Eastern Musical Festival, một trong những trung tâm đào tạo có uy tín nhất dành cho các nhạc sĩ trẻ có khát vọng. Sau đó cô được học bổng toàn phần của Trường Âm nhạc Frost thuộc Đại học Miami, nơi cô tiếp tục học với cô giáo thời thơ ấu, Tiến sĩ Sackstein, trước khi lấy bằng thạc sĩ của Trường Âm nhạc Mannes ở thành phố New York.

Rõ ràng, Elaine Rinaldi đã nỗ lực hết mình và phải hy sinh nhiều thứ để đạt được ước mơ trở thành một nghệ sĩ dương cầm biểu diễn trong các buổi hòa nhạc. Sau khi nhận bằng thạc sĩ, Elaine xem như đã đạt được ước mơ của mình nhưng hạnh phúc không được bao lâu. Chưa đầy mười hai tháng sau khi tốt nghiệp, cô bị một chiếc xe hơi đụng phải khi đang đạp xe trên đường phố New York. Ước mơ mà cô nuôi dưỡng và cố gắng một đời đã kết thúc.

Tai nạn này đã hủy hoại Elaine – về thể chất, tinh thần lẫn sự nghiệp. Chấn thương ở phần trên cơ thể khiến cô không thể tiếp tục chơi đàn chuyên nghiệp. Tất cả thời gian cô miệt mài luyện tập trong nhiều năm – nhiều hôm lên đến tám tiếng một ngày –    kể từ khi còn bé, giờ đây không còn gì cả. Hoặc có vẻ là như thế vào thời điểm đó.

Cả năm sau Elaine mới hồi phục sau chấn thương, nhưng khi cô bắt đầu đi xe đạp trở lại, cô bị đụng lần thứ hai. Lần này là một tay trượt patin. Cô giáo nhiều năm và cũng là cố vấn của cô, Tiến sĩ Sackstein đã nói về Elaine, “Cô ấy có tất cả phẩm chất của một nghệ sĩ dương cầm, khả năng và tài năng. Thật không may, mọi chuyện lại xảy ra như thế.”

Nhưng câu chuyện của Elaine không dừng lại ở đó. Cô sống ở New York và đi theo tiếng gọi mới trong ngành âm nhạc – chỉ huy dàn nhạc giao hưởng – và chỉ ít lâu sau, cô đã rất thành thạo. Năm 1997 Elaine được thuê làm trợ lý chỉ huy dàn nhạc và chủ đạo hợp xướng cho Nhà hát opera Florida, cái nôi của dàn nhạc giao hưởng Florida. Cô thú nhận rằng mình đã định “kiếm một công việc ở bất cứ nơi đâu” nhưng đây là quê hương của cô và rồi thì “cuối cùng tôi cũng trở về nhà”.

Năm 2000 Elaine trở lại New York để làm nghề chỉ huy dàn nhạc tự do cho nhà hát opera DiCapo một thời gian và cũng trong năm đó, cô trở lại Nam Florida để làm việc trong nhóm Key West ở Nhà hát opera Island. ở đó cô gặp lại nhiều người bạn cũ thuộc dàn nhạc giao hưởng Florida, và cô buồn rầu khi biết rằng nhóm nhạc đó đã phải giải tán vì thiếu quỹ để duy trì hoạt động.

Một số nhạc sĩ đề nghị Elaine lập một dàn nhạc giao hưởng mới. Cô là người lý tưởng cho công việc này, không chỉ bởi cô có thể chỉ huy dàn nhạc mà cô còn có các mối quan hệ cho phép ý tưởng này thành hiện thực. Cô nói, “Chúng tôi có những nhà soạn nhạc tài ba ở Nam Florida, và nếu tập hợp lại, chúng tôi sẽ có một dàn nhạc giao hưởng xuất sắc.”

Năm 2006, dàn nhạc giao hưởng Miami chính thức được thành lập. Dàn nhạc gồm bốn mươi con người tài năng biểu diễn tại Hội trường Miami Dade County – chính là nơi mà Elaine đã nhận giải thưởng Hiệp Sĩ Bạc. Cô nói, “Tất cả ký ức quê nhà hiện về trong tôi.”

Elaine Rinaldi đã mất đi ước mơ của mình, nhưng nhờ đó mà cô có cơ hội theo đuổi và đạt được một ước mơ khác, to lớn hơn. “Hình ảnh cô ấy đứng ra điều khiển một dàn nhạc giao hưởng là điều mà tôi hằng mong đợi”, Tiến sĩ Sackstein nói, “Thật mừng cho cô ấy.”

TẠO DỰNG TƯƠNG LAI

“Tôi hướng về tương lai bởi đó chính là nơi tôi sẽ sống trọn cuộc đời mình. ” – George Burns

Điểm nổi bật trong những câu chuyện trên là ta có thể tin rằng, nếu một ước mơ bị tước mất thì luôn có một ước mơ mới đến với ta. Khi ước mơ không thành, khi tất cả nỗ lực bị mất đi, chúng ta có thể trở nên cay đắng và phẫn uất, chúng ta có thể than trách về sự bất công của cuộc đời; hoặc chúng ta có thể nhìn về tương lai và tìm một ước mơ khác. Thực tế là nếu chúng ta lựa chọn điều thứ hai, chúng ta thường sẽ tìm được một ước mơ thậm chí to lớn hơn, ý nghĩa hơn rất nhiều. Đôi khi, nó còn hồi sinh những ước mơ đã mất, những ước mơ tưởng chừng đã bị từ bỏ rất lâu, đang ngủ vùi trong ta và chờ ngày sống dậy.

Kim Williams là con thứ tư trong số tám anh em của một gia đình yêu âm nhạc. Đến sinh nhật lần thứ bảy, cậu chơi được đàn ghi-ta và lên mười thì cậu đã có thể soạn nhạc. Khi bước vào tuổi thiếu niên, cậu chơi cho vài ban nhạc nhỏ và đi khắp vùng Trung Tây nước Mỹ rồi sau cùng là trở lại miền Đông Tennessee, yêu, lập gia đình, và quyết định mình phải gánh vác trách nhiệm bằng cách tìm một việc làm ổn định. Sau khi làm nhiều việc trong ngành xây dựng, anh chấp nhận vị trí kỹ thuật viên điện tử trong một xưởng sản xuất kính trong vùng. Anh đã bỏ sang một bên mọi khát khao theo đuổi sự nghiệp âm nhạc trong quá khứ, thay vào đó, anh dành toàn bộ thời gian chăm lo gia đình. Cuộc sống của Kim và gia đình anh bình thường nhưng thoải mái cho đến một ngày năm 1974, một tai nạn xảy ra ở xưởng làm việc đã thay đổi dòng chảy cuộc đời anh.

Kim bị kẹt trong một đám cháy khủng khiếp bên trong nhà xưởng, vết bỏng của anh nghiêm trọng đến nỗi hơn một thập niên sau, anh phải trải qua hơn hai trăm ca giải phẫu phục hồi và thẩm mỹ. Đa số những lần điều trị được tiến hành ở Trung tâm Y tế Đại học Vanderbilt ở Nashville, và cũng tại đó, anh vô tình biết đến lớp dạy sáng tác nhạc ngay trong khuôn viên Đại học Tennessee. Anh đăng ký tham gia và nhờ đó mà anh cảm thấy tình yêu âm nhạc trong anh trỗi dậy. Mặc dù anh đang nỗ lực học tập để lấy bằng tâm lý học, Kim biết điều mình thật sự muốn là trở thành một nhà soạn nhạc.

Suốt 5 năm tiếp theo, anh thường xuyên đi lại giữa Đông Tennessee và Nashville để học viết nhạc và thỉnh thoảng rao bán các tác phẩm của mình. Sau cùng, vào năm 1988 Kim ký hợp đồng với Tree International (tiền thân của công ty sản xuất nhạc Sony/ATV). Trong vòng vài tháng đầu tiên làm việc tại đây, Joe Diffrey, ca sĩ hát nhạc đồng quê, đã thu âm một bản nhạc do Kim là đồng tác giả, có tựa If The Devil Danced In Empty Pockets. Nó trở thành bài hát được ưa chuộng nhất và nhanh chóng đưa tên tuổi Kim Williams trở thành nhà viết nhạc tài năng nổi tiếng trong ngành âm nhạc giải trí. Kim có dịp làm việc với ca sĩ nhạc đồng quê tên là Garth Brooks, tình bạn khăng khít nảy nở giữa hai người và họ đã viết nhạc cùng nhau trong hàng thập kỷ. Kể từ đó, Kim đạt được hàng loạt thành tựu rực rỡ cùng nhiều ca sĩ hàng đầu của dòng nhạc đồng quê, trong đó tiêu biểu nhất là tác phẩm Three Wooden Crosses, ông viết cùng với Doug Johnson và được Randy Travis thu âm vào năm 2003. Bài hát được bình chọn là Bài hát của Năm trong Giải thưởng Nhạc đồng quê 2003 và giải tương tự do Hội Nhạc sĩ Nashville trao tặng.

Doug Johnson nhận xét về Kim Williams là “người tích cực và nhiệt huyết nhất” mà anh từng biết. “Tôi   ước gì mọi người đều có cơ hội tiếp xúc với anh ấy”, Johnson nói, “Anh ấy là nguồn cảm hứng lớn lao.” Nhớ lại quãng thời gian khi gặp tai nạn, Kim Williams tin rằng chính nó đã hồi sinh khát khao trở thành nhạc sĩ trong anh. Như anh đã bày tỏ trong một cuộc phỏng vấn, “Tôi không biết liệu tôi có bao giờ trở lại với âm nhạc nếu tai nạn đó không xảy ra. Có lẽ Thượng đế đã quyết rằng, “Ta phải khiến anh chàng này cảm thấy khổ sở đủ để đẩy anh ta về đúng nơi anh ta cần đến.”

Một trong những mặt phải lớn nhất của tổn thương là nó buộc chúng ta phải có mục tiêu. Hầu hết chúng ta để cuộc sống trôi qua mà không biết mình thật sự muốn gì. Như trong câu chuyện của Simon và Helen Pattinson được đề cập ở Phần Một, đôi khi bằng trực giác, người ta nhận ra mình còn thiếu một điều gì đó và bắt đầu tích cực tìm kiếm. Simon và Helen là những luật sư trẻ, ngày ngày đi làm tại thủ đô Luân Đôn cho đến thời điểm họ biết mình phải đi tìm một nguồn cảm hứng. Với nhiều người khác, mãi đến khi đối mặt với thất bại hay tổn thương thì họ mới nhận ra điều tương tự, và đôi khi chính tổn thương tự nó trao cho con người những mục tiêu để theo đuổi.

Một khi bạn có được mục tiêu cụ thể tức là bạn đã đi hơn nửa đường trong quá trình đạt được nó. Lần đầu tiên tôi nghe Roger Crawford nói chuyện là vào năm 1996. Anh nói chậm rãi, khoan thai và đầy hài hước. Khán giả của anh nuốt từng từ, không phải bởi Roger tàn tật mà vì anh có nguồn kiến thức uyên thâm để chia sẻ, và sau khi nghe anh nói, khán giả ra về tràn đầy cảm hứng.

Roger bẩm sinh bị tật “thiếu ngón”. Anh có hai ngón tay ở bàn tay trái, một ngón ở bàn tay phải. Anh có ba ngón chân ở bàn chân phải còn chân trái của anh thì bị tháo khớp từ đầu gối trở xuống. Tuy vậy, Roger được cấp bằng huấn luyện viên quần vợt của Hội Quần Vợt Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ. Anh có bằng cử nhân Viễn Thông của Đại học Loyola-Marymount ở Los Angeles, anh là người tàn tật đầu tiên trong Hiệp Hội Vận Động Viên Đại Học Quốc gia và anh đã trở thành một diễn giả truyền cảm hứng được săn đón. Có lẽ thông điệp quan trọng nhất mà Roger Crawford chia sẻ chính là tầm quan trọng của việc có được những mục tiêu cá nhân cụ thể. Anh nói, “Bất cứ ai cũng có thể làm nên những điều kỳ diệu, nhưng đầu tiên bạn phải cho mình những điều kỳ diệu để làm.”

Nếu bạn hỏi một trăm người rằng liệu họ có mục tiêu, hoặc điều họ muốn đạt được nhất trong cuộc sống hay không thì hơn 90% không thể đưa ra câu trả lời cụ thể ngoại trừ ước mong được hạnh phúc và khỏe mạnh. Đó là điều mà Natalie du Toit (ta sẽ gặp ở chương sau), người giữ mười huy chương vàng trong hai kỳ Paralympics (Thế vận hội mùa hè dành cho người khuyết tật) xem là “bi kịch lớn của cuộc đời”. Một trong những món quà quý giá nhất mà cô nhận được là dòng chữ do huấn luyện viên của cô đề tặng, điều mà cô luôn tâm niệm trong cuộc sống:

Bi kịch cuộc đời không nằm ở việc ta không đạt được mục tiêu;

Bi kịch cuộc đời nằm ở việc ta không có mục tiêu để vươn đến.

Mục tiêu cho chúng ta mục đích, ý nghĩa, và định hướng sống. Đó cũng là lý do tại sao những người vượt qua bi kịch bản thân thường cảm thấy hạnh phúc và toại nguyện hơn. Mỗi ngày mới mang theo những thách thức và mục tiêu mới, và thường thì mỗi cá nhân còn có những mục tiêu lâu dài, cụ thể cho riêng mình.

Không có mục tiêu, chúng ta không khác gì con thuyền lênh đênh trên biển cả mênh mông. Vào tháng 5 năm 2008, tôi nghỉ phép một tuần để tham dự khóa huấn luyện lái thuyền Day Skipper. Đó có lẽ là công việc khó khăn nhất mà tôi từng thực hiện. Ngoại trừ buổi chiều đầu tiên tôi chỉ lang thang trên thuyền, còn lại là những trải nghiệm tuyệt vời. Với hai người bạn và một hướng dẫn viên, tôi lái thuyền qua eo biển Gibraltar đến Bắc Phi, ghé thăm vùng biển Tây Ban Nha ở Ceuta rồi đi tiếp lên Ma-rốc trước khi vượt biển Địa Trung Hải trong đêm để trở về Sotogrande bên bờ Costa del Sol.

Một trong những phần khó khăn nhất của khóa Day Skipper là việc tính toán lộ trình bởi có quá nhiều yếu tố phải quan tâm; ngoài những thứ phức tạp của chiếc thuyền còn có thủy triều, dòng nước, gió, điểm định vị (những điểm ta đánh dấu để biết vị trí hiện tại của mình), thời tiết và dự báo khí tượng thủy văn. Song, trước khi bạn xem xét bất kỳ yếu tố nào trong số đó, điều đầu tiên bạn cần phải có – và nếu không có nó thì chẳng có lý do gì để rời cảng – đó là đích đến. Bạn phải biết mình muốn đi đâu, nếu không bạn sẽ chẳng đi đến đâu hết. Khi đã có đích đến, bạn hãy bắt đầu vạch ra lộ trình. Bạn kiểm tra dự báo khí tượng thủy văn, thủy triều, luồng nước biển và gió. Bạn đánh dấu lên hải đồ những điểm định vị suốt chiều dài hải hành để đối chiếu xem mình đang ở đâu vào bất kỳ lúc nào, và khi chắc chắn mọi thứ đã sẵn sàng, bạn khởi hành. Khi đang lênh đênh trên biển, nếu hoàn cảnh thay đổi – gió đổi hướng, gặp bão, hoặc có gì đó cản trở cuộc hành trình – thì thuyền trưởng, vốn đã biết rõ đích đến của mình, sẽ vẽ ra một lộ trình mới và căng buồm đi tiếp. Sẽ tốn nhiều thời gian và đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, nhưng bằng cách đó thuyền trưởng có thể tự tin mình đang đi đến đích.

Nếu cuộc đời là một cuộc hành trình, bao nhiêu người trong chúng ta có được đích đến? Bao nhiêu người thậm chí biết rõ phương hướng mình muốn đi hoặc đâu là điểm định vị của mình? Hầu hết sinh viên sau khi tốt nghiệp không có bất kỳ ý niệm gì về ngành nghề họ muốn làm. Và đó thật sự là bi kịch cuộc đời. Rất nhiều người làm việc chỉ để kiếm sống qua ngày thay vì xây dựng cuộc sống. Đôi khi, phải đến lúc khủng hoảng hay thậm chí bi kịch ập tới thì chúng ta mới ngưng trôi giạt, như Mike Jetter nói một cách chính xác là bắt đầu sống có ý thức.

CUỘC GỌI 911

Nhờ chiếc nón bảo hiểm mà Brian Gettinger sống sót sau một tai nạn xe máy vào tháng 9 năm 1993. Khi ấy anh 23 tuổi và chỉ mới ba tuần sau khi tốt nghiệp Học Viện Cảnh Sát Sinclair, anh làm cho chiếc xe gắn máy của bố mình tan tành vì lạc tay lái ở một khúc cua. Anh nói, “Tôi tưởng mình không sống sót nổi sau cú va chạm đó.” Cơ thể anh bị văng vào thanh chắn đường, xương sống anh bị đè nát, lưng anh bị gãy ở ba chỗ, cùng vài chiếc xương sườn. Trong lúc nằm vô vọng bên lề đường ở Ohio với những chấn thương nghiêm trọng, Brian Gettinger chỉ nghĩ được một điều, “Tôi sẽ không bao giờ trở thành một viên cảnh sát được nữa.”

Gettinger sống sót sau vụ tai nạn. Các bác sĩ bảo rằng anh không thể đi lại được nữa, nhưng chín ngày sau vụ tai nạn, anh đã cử động được các ngón chân, và sau nhiều ca phẫu thuật cùng hàng tháng phục hồi, anh đã đứng được trên đôi chân của mình. Tuy vậy, vẫn còn rất nhiều chấn thương khiến anh không thể trở thành nhân viên cảnh sát được nữa. Phần dưới chân trái của anh bị liệt và anh không có cơ bắp ở vai trái. Nhưng chính vụ tai nạn đã tước đi ước mơ gia nhập lực lượng cảnh sát của anh lại định ra một hướng đi nghề nghiệp mới, mà theo nhiều góc độ, đã giúp cuộc đời anh ý nghĩa và mãn nguyện hơn. Năm 1996, anh đủ tiêu chuẩn trở thành cảnh sát điều phối – người trả lời các cuộc gọi khẩn cấp. Đó là một công việc mang đến cho anh cơ hội giúp đỡ người khác ngay khi họ cần được giúp đỡ nhất. Hôm nay anh có thể trấn an một người ở hiện trường tai nạn cho đến khi đội cấp cứu đến. Hôm khác anh có thể chỉ dẫn cho một người bị lạc đường. Đó là công việc mà anh hết sức ưng ý. “Vô cùng tuyệt vời”, Brian nhận xét.

Trung úy Robin Schmutz ở tổng đài Toledo cho rằng tai nạn của Brian đặc biệt giúp anh trở nên phù hợp với vị trí này. “Nó giúp anh ấy hiểu được những gì đang diễn ra trong đầu nạn nhân khi ở trong tình cảnh nguy cấp”, Schmutz nói. Brian từng mong muốn trở thành một nhân viên cảnh sát làm việc trên đường phố, nhưng mẹ anh nói niềm khao khát của con trai bà vẫn luôn là giúp đỡ người khác và bà tin rằng anh sinh ra để làm cảnh sát điều phối. “Đôi lúc Thượng Đế làm rất nhiều điều bí ẩn”, bà nói. “Có lẽ đó là nơi Brian có thể cứu sống được nhiều người hơn.”

SỨC MẠNH TINH THẦN TÍCH CỰC

“Sức mạnh tinh thần tích cực thật sự nằm trong suy nghĩ sáng tạo hình thành nên số phận của bạn, và những gì diễn ra trong đầu bạn từng ngày từng giờ tạo nên động lực cho những thay đổi trong cuộc sống của bạn. Hãy tạo ra một chuyến tàu chuyên chở suy nghĩ và lèo lái nó. Chất lượng cuộc sống cũngnhư hạnh phúc cuộc đời bạn phụ thuộc vào hướng con tàu đó lướt đi. ” – Laurence J. Peter, 1919-1988

Liệu có bàn tay Thượng Đế can thiệp vào cái ngày Brian Gettinger bị hất văng khỏi xe gắn máy hay không, chúng ta không bao giờ biết. Có lẽ Thượng Đế quyết định rằng Julio Iglesias không nên trở thành cầu thủ bóng đá và Elaine Rinaldi tốt hơn hết không nên chơi đàn dương cầm. Có người sẽ nghĩ rằng Đáng Quyền Năng còn nhiều việc vĩ đại hơn để làm thay vì ngồi suy nghĩ xem nên để anh chàng này làm cảnh sát điều phối hay là cảnh sát giao thông, và anh chàng ở Tây Ban Nha kia nên đi hát hay đi đá bóng. Dĩ nhiên, những sự kiện này có thể chỉ là kết quả ngẫu nhiên khi con người ta bị ném vào dòng chảy cuộc đời. Nhưng, dù gì đi nữa, thực tế là Brian Gettinger đã tìm thấy một “món quà” từ vụ tai nạn đã cướp đi ước mơ của anh, tựa như Julio igiesias và Elaine Rinaldi đã tìm thấy “món quà” từ trong ước mơ mà họ đánh mất.

Chúng ta có thể noi gương những người như Julio Iglesias, Elaine Rinaldi và Brian Gettinger, đặc biệt khi chúng ta phải đối mặt với nỗi thất vọng trong cuộc sống của chính mình. Những người đánh mất ước mơ  thường nguyền rủa Thượng Đế hay trút bực tức cho số phận đen đủi. Họ nhắc chúng ta nhớ rằng đôi khi tất cả những gì ta cần để tìm ra mặt phải là sẵn sàng quên đi những gì đã mất, nhìn về phía trước với niềm hy vọng và tin tưởng rằng: đâu đó trong tương lai, có một ước mơ mới mẻ, lớn lao và tốt đẹp hơn và có lẽ ý nghĩa hơn đang chờ đợi ta.

Cuộc đời họ là minh chứng cho một sự thật rằng ở mặt phải, không mất mát nào mà không có sự đền bù. Cuộc đời họ chuyển tải một thông điệp đặc biệt:

Không một ước mơ tan vỡ nào mà không thể được thay thế bằng một ước mơ khác. Nếu ta cứ mãi tiếc nuối những điều lẽ ra phải xảy ra, hoặc những điều ta tin rằng nên xảy ra, thì ta không thể nào tìm được những ước mơ mới. Những ước mơ đó chỉ có thể được tìm thấy khi ta tập trung tìm hiểu xem ước mơ ấy là gì, ta đang có những gì và ta sẽ trở nên như thế nào.