NHỮNG KỲ VỌNG LỚN LAO: BÍ QUYẾT CỦA NGƯỜI LẠC QUAN

“Người lạc quan có khuynh hướng xem nghịch cảnh như một thử thách, biến trắc trở thành cơ hội, đầu tư thời gian để trau dồi kỹ năng, kiên trì tìm kiếm hướng giải quyết cho những vấn đề khó khăn, luôn vững tin, bật dậy nhanh chóng sau những thất bại và luôn kiên định. ” – Peter Schulman

MỘT NGƯỜI BẠN CŨ thời đại học của tôi có nói với tôi rằng, trong cuộc sống, anh ấy thường hay trông đợi tình huống xấu nhất. Tôi lấy làm thắc mắc “Tại sao?” Không chút chần chừ, anh ấy trả lời, “Vì khi mong đợi kết quả tốt nhất, thế nào tôi cũng thất vọng nếu mọi việc không như ý. Nếu tôi chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất, tôi sẽ không bao giờ phải thất vọng và khi mọi việc diễn biến tốt… tôi sẽ ngạc nhiên trong sung sướng.” Lý lẽ của anh ta không có gì khác thường và thoạt đầu nghe có vẻ hợp lý. Đó là lý lẽ thường tình của những người bi quan. Tuy nhiên, có một sai sót nghiêm trọng trong lập luận của anh ta; đó là lập luận này không hiệu quả!

Lý lẽ này thật vô dụng vì những gì chúng ta trông đợi thường trở thành lời tiên đoán hiệu nghiệm. Ông Dan Ariely, Giáo sư Kinh tế học về hành vi tại Đại học Duke, bang Bắc Carolina đã chứng minh qua nghiên cứu của ông rằng, những gì chúng ta trông đợi sẽ luôn quyết định những gì chúng ta trải nghiệm. “Khi chúng ta nghĩ mọi việc sẽ tốt đẹp thì thông thường nó sẽ  tốt đẹp”, Giáo sư Ariely giải thích thêm, “và khi chúng ta nghĩ nó sẽ tồi tệ thì nó sẽ trở nên tồi tệ.”

Trong quyển sách Predictably Irrational (Phi Lý Trí) nổi tiếng của mình, Giáo sư Ariely miêu tả về nhiều nghiên cứu mà ông thực hiện hoặc tham gia, về tầm ảnh hưởng của những gì con người trông đợi lên nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Ông phát hiện ra rằng, ví dụ, mức độ chúng ta thưởng thức một bữa ăn sẽ bị tác động bởi cách chúng ta trông đợi trước đó. Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi trong một nhà hàng Ý thanh lịch và thực đơn ngày hôm nay có hai lựa chọn: món thứ nhất được miêu tả đơn giản là “Mì ống với rau quả” và món thứ hai được miêu tả là “Mì ống Tuscan làm tại gia trộn với nước xốt bơ béo Devonshire, tỏi và thảo mộc trong vườn dùng với rau quả tươi theo mùa”, bạn sẽ chọn món nào? Theo nghiên cứu của Giáo sư Ariely, hầu hết mọi người sẽ chọn món ăn được miêu tả chi tiết hơn (giả sử họ không bị dị ứng hay không đặc biệt khó chịu gì với thành phần nào của món ăn đó). Tuy nhiên, điều thật sự thú vị là trong nghiên cứu của giáo sư Ariely, những người chọn món ăn được miêu tả phong phú hơn cũng sẽ thưởng thức bữa ăn của họ ngon miệng hơn những người chọn món ăn được miêu tả đơn giản, cho dù hai món được chế biến y hệt nhau.

Tương tự, nếu một bữa ăn được bày biện hoa mỹ, chúng ta sẽ cảm thấy ngon miệng hơn là nếu chỉ đơn giản bỏ thức ăn vào một cái dĩa. Đối với thức uống cũng vậy. Có lẽ đây là một trong những lý do đã khiến Starbucks trở nên nổi tiếng. Mọi người thích thưởng thức và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho một “hỗn hợp đậm đặc từ những hạt cà phê Indonesia lâu năm, với hương vị đậm đà, sâu lắng, thơm ngon hòa trộn cùng thảo mộc” hơn là thức uống có cái tên đơn giản “Cà phê Châu Á”. Hãy rót cà phê vào một cái ly bắt mắt và nó sẽ trở nên ngon tuyệt.

Thật thú vị, Giáo sư Ariely đã chứng tỏ rằng sự trông đợi của chúng ta thậm chí còn ảnh hưởng đến cả cách cơ thể chúng ta phản ứng với thuốc; tờ hướng dẫn sử dụng và mẫu mã bao bì đều ảnh hưởng đến sự trông đợi của chúng ta về loại thuốc đó, nhưng vẫn còn một yếu tố khác quan trọng không kém – đó là giá cả. Nếu bệnh nhân nghe nói giá của một loại thuốc mới (một loại thuốc giảm đau đã được chứng minh hiệu quả) là 2,5 đô Mỹ một liều, thì hầu như tất cả các bệnh nhân đều phản ứng với thuốc rất tích cực. Tuy nhiên, khi họ uống cùng một loại thuốc đó nhưng khi biết rằng giá của nó chỉ có 10 xu một liều, thì chỉ có 50% số bệnh nhân cho biết họ cảm thấy cơn đau được giảm xuống. Thật không thể tin được khi nghe điều này, mặc dù hai viên thuốc có thành phần y như nhau, thì viên thuốc có giá thành cao hơn sẽ hiệu quả hơn viên thuốc có giá thành thấp, đơn giản là do trong tiềm thức, chúng ta trông đợi vào loại thuốc có giá thành cao hơn sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.

Qua các thí nghiệm của giáo sư Ariely, ông đã kết luận rằng, trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống, sự trông đợi không chỉ ảnh hưởng đến những gì chúng ta trải nghiệm mà còn ảnh hưởng đến kết quả thật sự. “Tâm trí nhận được những gì nó trông đợi”, ông nói. Tất cả những gì quan trọng với chúng ta như tình yêu, sức khỏe, hạnh phúc và sự tận hưởng cuộc sống đều chịu tác động bởi sự mong đợi của chính ta về những điều xảy ra trong tương lại. Đây là điều cốt lõi của mặt phải.

VẼ SƠ ĐỒ CHO TƯƠNG LAI

Khu vực phòng cách ly của bệnh viện có vẻ không phải là nơi thích hợp để ta trông đợi tìm thấy mặt phải. Càng không thích hợp khi bạn phải chịu đựng những phương pháp điều trị khắc nghiệt hàng tháng trời để rồi cuối cùng được thông báo rằng cuộc sống của bạn “ngàn cân treo sợi tóc”. Tuy vậy, đó lại chính xác là nơi Mike Jetter, một lập trình viên máy tính người Đức đã tìm thấy mặt phải làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của anh.

Câu chuyện bắt đầu vào một buổi sáng sớm của ngày lễ Giáng sinh năm 1989 ở một thị trấn nhỏ tại Starnberg, nước Đức. Mike bị đánh thức bởi một cơn đau dữ dội sau lưng gần khiến anh tắt thở. Vợ anh – cô Bettina – gọi cấp cứu và anh được nhanh chóng đưa đến bệnh viện gần nhất. Sau hàng loạt những xét nghiệm, các bác sĩ phát hiện ra cơn đau của anh là do lá lách phình to. số lượng bạch huyết cầu của Mike cực kỳ cao, gấp 30 lần so với mức bình thường. Sự việc có vẻ rất nghiêm trọng.

Kết quả là Mike mắc bệnh bạch cầu tủy mạn, một loại bệnh mà tỉ lệ mắc phải là 1 đến 2 trên 100.000 người và thường đòi hỏi những phương pháp chữa trị tiên tiến như hóa trị, dùng thuốc ức chế miễn dịch, cấy ghép tủy xương hoặc tế bào gốc. Mike được tiến hành cấy ghép lần đầu tiên vào tháng hai năm 1991. Anh may mắn có người anh trai Andi có tủy xương hoàn toàn tương thích với anh. Trong một khoảng thời gian, việc điều trị có vẻ mang lại hiệu quả, nhưng đến mùa thu năm 1993, bệnh của Mike tái phát và chưa đầy sáu tháng sau, anh buộc phải làm phẫu thuật cấy ghép tế bào gốc, phương sách cuối cùng lúc bấy giờ.

Mike phải nhập viện lần thứ hai và nằm trong khu vực cách ly, với viễn cảnh hàng tháng điều trị và hầu như không được liên lạc ra thế giới bên ngoài. Thêm nữa, không ai dám đảm bảo kết quả điều trị. May mắn lắm thì Mike cũng chỉ có 50% cơ hội sống sót thêm mười hai tháng. Đối với nhiều người, hoàn cảnh đầy thử thách này cùng những lời chẩn đoán mù mờ như thế cũng đủ khiến họ suy sụp. Sự hoảng loạn và lo lắng dễ dàng đẩy chúng ta đến mức tự hủy hoại mình. Hơn bao giờ hết, điều cốt yếu lúc này là giữ cho tâm hồn lạc quan, tích cực trong khủng hoảng, đặc biệt là đối với tình trạng của Mike.

Khi gặp Mike Jetter, dù chỉ là hình ảnh qua webcam trên Internet, ai cũng thấy thích anh ngay. Anh có đôi mắt to, xanh thẳm và một nụ cười hấp dẫn, và nhìn anh thật khó biết rằng suốt mười chín năm qua anh đã phải đấu tranh và đương đầu với những khó khăn, thử thách to lớn. Hoàn toàn  không có vẻ gì oán giận hay cay đắng trong cách anh nói chuyện, ở Mike luôn toát ra vẻ nhiệt thành với cuộc sống. Anh là người không bận tâm lắm đến những con số thống kê đầy bi quan. Anh nói “Tôi nghĩ tôi luôn là một người tích cực và vợ tôi – Bettina – cũng vậy.” Vào khoảng thời gian khi Mike nhận được tin anh mắc bệnh bạch cầu tủy mạn, lúc đó chưa có mạng Internet nên Mike và vợ anh không truy cập được nhiều thông tin như chúng ta ngày nay. “Tính ra đấy lại là điều tốt, nhờ vậy chúng tôi không bị những thông tin tiêu cực bủa vây. Chúng tôi để các bác sĩ tiến hành những phương pháp điều trị, đồng thời chúng tôi cũng tìm kiếm các phương pháp khác có thể giúp ích thêm như chế độ dinh dưỡng, xoa bóp, ngồi thiền và những gì có lợi cho tâm trí và tinh thần. Chúng tôi luôn nhìn về phía trước và lên kế hoạch cho một cuộc sống mới và tôi nghĩ  điều này đóng vai trò quan trọng giúp mọi thứ diễn ra tốt đẹp.”

Ngay từ đợt chữa trị đầu tiên trước đó ba năm, Mike biết mình cần tìm một thú vui nào đó trong suốt nhiều tháng ở bệnh viện. “Người ta nói rằng tôi chỉ có 50% cơ hội sống sót trong 12 tháng tới”, anh nói, “Tôi cũng biết từ đợt chữa trị đầu tiên là mình cần phải vượt qua vấn đề về tâm lý.”

“Tôi ở trong một căn phòng nhỏ ở bệnh viện, mọi người cứ ra vào liên tục, mặc trang phục giải phẫu, đeo khẩu trang và găng tay, tôi biết cảnh này sẽ lặp đi iặp lại trong nhiều tháng. Tôi cần tìm một điều gì đó để giữ cho đầu óc tập trung, để quên đi căn bệnh bạch cầu cùng quá trình chữa trị, và tất cả mọi cảnh tượng đang diễn ra quanh tôi.”

Là một lập trình viên máy tính, Mike nghĩ đến việc bắt tay vào làm một dự án phát triển phần mềm mới. Bất cứ ai từng ngồi trước máy tính đều biết  rằng thời gian trôi qua nhanh như thế nào và ta rất dễ đắm chìm vào bất cứ việc gì ta đang làm. Ngồi viết chương trình còn cuốn hút hơn nữa. Vào lúc đó, thế giới xung quanh bạn như mờ dần. Chỉ còn bạn và màn hình máy tính.

Dự án Mike quyết định bắt tay vào làm là “Vẽ Sơ Đồ Tư Duy” (mind- mapping). Vẽ Sơ Đồ Tư Duy là một kỹ thuật tổng hợp lại suy nghĩ của mình dưới dạng sơ đồ trên một tờ giấy. Sơ Đồ Tư Duy là một biểu đồ trong đó từ ngữ, ý tưởng, công việc và những thứ khác được kết nối xung quanh một từ ngữ hay một ý tưởng trung tâm. Nó được dùng để phát triển và hệ thống hóa các ý tưởng, và Sơ Đồ Tư Duy đã chứng tỏ là một trợ thủ đắc lực trong việc học, tổ chức, giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định.

Người vẽ Sơ Đồ Tư Duy bắt đầu với một tờ giấy trắng và ghi lên đó chủ đề hoặc ý tưởng chủ đạo. Chủ đề hoặc ý tưởng này có thể được diễn đạt bằng từ ngữ hay hình ảnh, và được đặt trong một vòng tròn ngay chính giữa trang giấy. Sau đó, người ta phát triển cấu trúc này bằng cách vẽ các nhánh từ chủ đề trung tâm và điền vào các ý tưởng hoặc yếu tố liên quan. Các nhánh xa hơn có thể được thêm vào để dẫn tới các chủ đề phụ và các khái niệm nhỏ cho đến khi cấu trúc được hoàn thành và trông như một mạng nhện với tất cả các mục liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ đề trung tâm. Nhờ vậy, tất cả các yếu tố của Sơ Đồ Tư Duy được sắp xếp trực quan dựa trên mức độ quan trọng của các khái niệm và chủ đề, từ đó chúng được phân loại theo các nhóm, nhánh hoặc các khu vực khác nhau. Việc trình bày ý tưởng bằng Sơ Đồ Tư Duy khuyến khích xu hướng động não không theo đường lối thông thường, giúp bạn nghĩ ra các ý tưởng mới hiệu quả hơn cách thức ghi chú theo hệ thống, sắp xếp theo thứ bậc. Để tìm hiểu thêm về Sơ Đồ Tư Duy, bạn có thể tìm đọc quyển sách Tôi Tài Giỏi, Bạn Cũng Thế!.

Khi Mike Jetter trở lại bệnh viện vào năm 1994, anh đã hiểu rất rõ về những lợi ích mà việc vẽ Sơ Đồ Tư Duy mang lại, bản thân anh cũng thường xuyên dùng nó trong công việc. Nhưng, là một lập trình viên máy tính, anh cũng nhận thức được những hạn chế của Sơ Đồ Tư Duy. Anh nói  “Người ta có thể tha hồ sáng tạo với viết màu và bút chì màu, nhưng khi bạn vẽ trên giấy, thì chỉ được một lần. Bạn không thể thật sự phát triển nó. Bạn không thể chia sẻ nó.” Mike nảy ra ý tưởng đưa quá trình vẽ Sơ Đồ Tư Duy vào một phần mềm cho phép người dùng nâng nó lên một cấp độ khác. Trên máy vi tính, người ta có thể di chuyển các ý tưởng một cách dễ dàng và còn có thể bổ sung, điều chỉnh, in ra giấy và chia sẻ sơ đồ.

Mỗi ngày, Mike dành cho dự án mới của mình từ 5 đến 6 tiếng, ngay trong căn phòng nhỏ ở bệnh viện, xen kẽ những đợt điều trị. Anh nhớ lại, “Ban đầu, đó chỉ là một trò tiêu khiển, nó làm cho tôi không còn nghĩ ngợi về những gì đang xảy đến với mình nữa.” Tuy nhiên, đến ngày xuất viện, anh đã hoàn thành phiên bản đầu tiên của chương trình vẽ Sơ Đồ Tư Duy cho người dùng máy tính. Đó là một phần mềm độc đáo có tên là Mindman (về sau được đổi tên thành MindManager).

Ngày nay, phần mềm MindManager được hơn một triệu người trên khắp thế giới tin dùng, có cả các tập đoàn cấp quốc tế; và công ty Mindjet do Mike và Bettina thành lập đã trở thành một doanh nghiệp toàn cầu với một chuỗi các văn phòng đại diện ở Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu. Điều đáng nói hơn cả phần mềm và công việc kinh doanh mà Mike tạo ra chính là cách Mike chống chọi với căn bệnh bạch cầu và mang đến những thay đổi sâu sắc cho cả anh và Bettina. Mike nói “Trước khi tôi mắc bệnh, chúng tôi sống nhưng không nhận ra mình đang sống. Còn bây giờ, chúng tôi hiểu rõ những gì mình làm và quan tâm hơn về cách chúng tôi sử dụng quỹ thời gian của mình và với những ai.”

Tôi nhận thấy quan điểm này có ở tất cả những người khác mà tôi liên hệ, những người tìm ra được mặt phải. Rhonda Byrne, tác giả và là người tạo nên tác phẩm Bí Mật đã nói rằng, “Tôi đã từng tồn tại ngày qua ngày. Cuộc sống chỉ như một điều gì đó xảy đến với tôi.” Chỉ sau khi cô rơi xuống vực thẳm cuộc đời và ý tưởng hình thành tác phẩm Bí Mật chợt đến, cô bỗng nhận ra sự thay đổi sâu sắc. Khi được phỏng vấn về điều này, cô chia sẻ rằng từ khi cô khám phá ra Bí Mật, “Cuộc sống diễn ra thông qua tôi hơn là đến với tôi.”

Bất kể thất bại lần thứ tư vào năm 2003 khi Mike cần một cuộc cấy ghép tủy khác, cả anh và Bettina vẫn tin rằng nhờ bệnh tình của anh mà cuộc sống của hai người đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phần mềm của Mike trở nên cực kỳ thông dụng. Rất nhiều người dùng phản hồi rằng chương trình này làm thay đổi cách làm việc của họ, điều đó đã đặt nền móng cho việc kinh doanh của Mike và Bettina tại Sausalito, ngoại ô San Francisco vào năm 1998. Mike nói “Không còn nghi ngờ gì nữa, chính căn bệnh của tôi là bàn đạp cho công việc kinh doanh lẫn những thay đổi trong cuộc sống cá nhân của chúng tôi. Nếu không trải qua căn bệnh này, chúng tôi đã không thể tận hưởng cuộc sống như ngày hôm nay và chắc cũng không sống tại Mỹ.”

“Tôi tin rằng mọi chuyện xảy ra đều có nguyên nhân của nó”, anh tiếp tục. “Tôi không tin đó là sự trùng hợp. Đôi khi bạn phải chịu đựng hoặc mất đi một điều gì đó trước khi bạn tìm ra sứ mệnh hay mục đích sống của mình.”

Chính căn bệnh của Mike đã đưa anh và vợ anh xích lại gần nhau hơn. Anh nói “Có rất nhiều việc tốn thời gian mà bạn cần người giúp đỡ trong và sau quá trình điều trị. Bettina luôn ở cạnh tôi. Tôi không nghĩ mình có thể vượt qua nếu không có cô ấy.” Hiện tại, Mike và Bettina sống với nhau tại Corte Madera, 15 dặm về phía Bắc của San Francisco. Họ đã rời bỏ công việc điều hành kinh doanh cách đây vài năm. Mike viết về chặng đường đã qua của mình và những bài học anh rút ra được trong quyển sách mang tên The Cancer Code (Mật Mã Của Căn Bệnh Ung Thư). Câu chuyện của anh và sự hiểu biết mà anh đúc kết được từ căn bệnh đã giúp đỡ và truyền cảm ứng cho những người khác đang chịu đựng bệnh ung thư. Một phần số tiền thu được từ việc bán sách của anh dùng để hỗ trợ những bệnh nhân ung thư và gia đình họ, đội ngũ y tế và các nhà nghiên cứu trong cuộc chiến chống lại căn bệnh bạch cầu.

Nhìn lại khoảng thời gian bệnh tật triền miên của anh, Mike và Bettina giờ đây đã thấy được mặt phải. Mike nói, “Cuộc chiến chống lại bệnh ung thư đã biến đổi cuộc sống chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu được ý nghĩa thật sự của thành công.” Anh lặp lại lời của Albert Schweitzer: “Chúng ta biết rằng thành công không phải là chìa khóa của hạnh phúc. Hạnh phúc mới là chìa khóa của thành công.”

Đúc kết lại 19 năm qua, Mike nói, “Đôi khi, thông qua nỗi đau, bạn trở thành một con người khác và tìm thấy một cuộc sống mới ý nghĩa hơn. Tôi nghĩ, với trường hợp của tôi, đã có rất nhiều thay đổi tích cực khơi nguồn từ chính căn bệnh này. Tôi không biết điều gì sẽ đến trong tương lai, nhưng cả Bettina và tôi đều cảm thấy biết ơn những gì mình có và bây giờ chúng tôi sống có mục đích, có ý thức hơn.”

VẤN ĐỀ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ

“Một người trung bình có một vú và một tinh hoàn. ” – Des McHale

Kể từ khi học môn Toán ứng dụng và Thống kê, tôi luôn cẩn trọng với những giả định dựa trên số liệu thống kê. Đơn giản là vì việc nhào nặn các dữ liệu này cho phù hợp với giả định của ta là quá dễ dàng, và thậm chí việc bị cuốn theo những con số còn dễ dàng hơn. Lấy ví dụ, nếu 99% người mắc bệnh ung thư thường hay ăn đậu rang thì không có nghĩa là đậu rang gây ra ung thư. Nếu ta nghe rằng mức lương trung bình tại Anh là 23.000 bảng, điều đó không có nghĩa là nếu lương của bạn chưa đến 23.000 bảng thì bạn không giàu có bằng phần lớn những người làm việc ở Anh. Nếu bạn lấy ra một nhóm mười người, chín người trong số họ có thu nhập 15.000 bảng và người thứ mười có thu nhập 80.000 bảng, thì thu nhập bình quân sẽ là 23.000 bảng, nhưng rõ ràng là 9/10 người có thu nhập thấp hơn con số thống kê trung bình một cách đáng kể.

Một lỗi mà chúng ta thường mắc phải là đưa ra những quyết định quan trọng chỉ dựa trên số liệu thống kê, bởi thống kê không khác gì thứ chất dẻo có thể uốn nắn được. Ngoài ra, quan trọng hơn, số liệu thống kê không bao giờ có thể bao gồm được tính chất con người. Ví dụ như, tôi đã từng nghe một vài vị phụ huynh nói với con họ rằng không nên theo đuổi một nghề nghiệp nào đó, diễn viên chẳng hạn, nếu chúng không muốn phải làm bồi bàn suốt đời vì “Diễn viên là nghề có tính cạnh tranh cực kỳ cao. Chỉ một phần trăm rất nhỏ những người muốn trở thành diễn viên đạt được những thành công nhỏ nhoi. Hãy cân nhắc làm điều gì đó thực tế hơn.” Theo ý các bậc phụ huynh thì “thực tế” ở đây có nghĩa là một nghề nghiệp dễ dàng và ổn định. Những công việc như kế toán hoặc hành chính văn phòng sẽ thích hợp hơn.

Thật ra điều mà các bậc cha mẹ đó muốn nói với con cái họ là nên thực hiện một trong những quyết định quan trọng nhất cuộc đời mình dựa trên những số liệu thống kê, nhắm đến cơ hội tốt nhất để tìm được việc làm hơn là những gì chúng đam mê hoặc có năng khiếu. Thú thật là, với những người ảo tưởng về tài năng của mình như nhiều người thử giọng trong chương trình thi hát trên truyền hình, thì một liều thuốc thực tế đúng là cần thiết. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu có khôn ngoan khi quyết định công việc mình sẽ gắn bó suốt đời dựa trên những số liệu thống kê. Thay vào đó, tôi tin rằng, bạn nên tìm kiếm một công việc mình yêu thích, đam mê và tận hưởng. Thế giới này sẽ thiệt thòi biết chừng nào nếu Thomas Edison buộc mình vào nghề gửi điện tín cả đời chỉ vì những nhà phát minh có tham vọng nhất thường không kiếm được nhiều tiền? Điều gì sẽ xảy ra nếu John Lennon nghe lời mẹ ông, bà Julia, người đã nói với ông rằng “Học guitar cũng tốt thôi, John, nhưng con sẽ không bao giờ sống được bằng nghề đó”?

Số liệu thống kê có thể cướp đi ước mơ của con người, và trong y khoa, nó còn có thể cướp đi cuộc sống của họ. Những gì chúng ta trông đợi sẽ ảnh hưởng đến kết quả, và nếu ta trông đợi tiêu cực, ta sẽ nhận được kết quả tiêu cực. Khi chúng ta nghe rằng theo thống kê, chỉ có 1/10 cơ hội sống được đến 5 năm, có nghĩa là theo lịch sử, chỉ một trong số mười người mắc phải căn bệnh cụ thể này sống được lâu hơn 5 năm. Điều mà những con số này không tính đến chính là thể chất của những người nhiễm bệnh.

CƯỜI NHẠO SỐ LIỆU THỐNG KÊ

“Đừng đặt niềm tin vào những gì số liệu thống kê thể hiện, cho đến khi bạn đã suy xét cẩn thận những gì nó không thể hiện. ” – William W. Watt

Vào giữa thập niên 60, tác giả và người đấu tranh vì hòa bình Norman Cousins được chẩn đoán mắc bệnh Marie-Strumpell (viêm cột sống dính khớp), một chứng viêm khớp kinh niên, đau nhức gây viêm tấy và thoái hóa các mô liên kết trong xương sống. Cơn đau mà Cousins chịu đựng nghiêm trọng đến mức khiến ông lo lắng nên ông đến gặp trực tiếp bác sĩ của mình để hỏi về bệnh tình và cơ hội hồi phục hoàn toàn của ông.

“Bác sĩ đã thẳng thắn với tôi”, Cousins viết, “và thừa nhận rằng một trong các chuyên gia cho ông ấy biết rằng cơ hội của tôi là 1/500. Chuyên gia đó cũng thú nhận rằng bản thân ông ấy chưa từng chứng kiến bất cứ ai hồi phục hoàn toàn sau tình trạng như thế này”.

“Tất cả điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Trước đó, tôi sẵn sàng phó mặc cho bác sĩ về bệnh trạng của mình. Nhưng bây giờ, tôi thấy mình buộc phải làm một điều gì đó. Rõ ràng, nếu tôi muốn trở thành một trong 500 trường hợp, thì tôi không được đơn thuần là một người quan sát thụ động.”

Bởi các bác sĩ không mang lại hy vọng thật sự nào cho ông, Cousins phải tự mình hành động. Theo ông được biết, bệnh viêm đốt sống thường xảy đến do ngộ độc kim loại nặng hoặc do nhiễm khuẩn cầu chuỗi. Cousins nghĩ về các chuỗi sự kiện dẫn tới căn bệnh của ông. Ông đã dẫn đầu một phái đoàn Mỹ đến Mat-xcơ-va và nghỉ lại khách sạn gần sân bay. Cạnh khách sạn có một công trình xây dựng lớn đang thi công, hàng đêm một đoàn xe tải động cơ diesel chuyển vật liệu tới và mang chất thải đi đổ. Cousins nhớ lại, lúc ấy là vào mùa hè, ông để cửa sổ mở khi ngủ và mỗi sáng thức giấc ông đều cảm thấy buồn nôn. Vào ngày cuối cùng, một chiếc xe quay đầu trên đường và hướng ống xả thẳng vào phòng Cousins, căn phòng ngập ngụa khói. Nhớ lại sự kiện đó, ông đoán nguyên nhân bệnh có thể là do ông tiếp xúc với khói độc trong thời gian ông nghỉ tại khách sạn.

Nhưng có một điều làm ông băn khoăn về lập luận của mình; đó là vợ của Cousins cũng ở với ông trong cùng chuyến đi đó, nhưng bà vẫn khỏe. Nếu nguyên nhân là khói thải thì tại sao bà ấy không bị nhiễm độc như ông? Vậy chỉ có thể là một trong hai lý do: hoặc ông đặc biệt dị ứng với khói thải, hoặc – theo Cousins thì nhiều khả năng là thủ phạm – ông mắc chứng suy tuyến thượng thận và hậu quả là hệ thống miễn dịch của ông bị suy giảm, nghĩa là khả năng chống lại khói độc của cơ thể ông cũng giảm theo. Chuyến đi đó trở nên cực kỳ khó chịu. Chuyến đi kéo dài cộng thêm hàng loạt các yếu tố khác khiến Cousins lo lắng và căng thẳng. Mọi chuyện dâng đến cực điểm khi ông lên chuyến bay trở về nhà. Máy bay chật kín khách và đó là một chuyến đi dài, mệt mỏi. Ngay khi máy bay vừa đáp xuống New York, Cousins bắt đầu cảm thấy khó chịu từ trong xương tủy. Một tuần sau, ông nhập viện.

Khi xem xét lại những triệu chứng khởi bệnh, Cousins lập luận với chính mình: “Nếu những cảm xúc tiêu cực do căng thẳng và lo lắng gây ra những biến đổi sinh hóa bất lợi cho cơ thể, thì liệu những cảm xúc tích cực có mang đến những biến đổi sinh hóa có lợi hay không?” Từ suy nghĩ này, ông hình thành một liệu pháp nhằm đạt được những cảm xúc tích cực và bàn bạc kế hoạch này với bác sĩ của ông. Ông sẽ ngưng dùng tất cả các loại thuốc giảm đau (vì chúng có thể làm tổn hại đến tuyến thượng thận), và thay vào đó ông dùng một lượng lớn vitamin C (vì theo như những báo cáo y tế mà ông đã đọc, các bệnh về collagen có liên quan tới sự suy giảm vitamin C). Quan trọng hơn cả, ông sẽ tập trung tâm trí vào những cảm xúc tích cực như hy vọng, yêu thương, chung thủy và vui vẻ. Do chẳng dễ dàng gì để cười khi bị hành hạ bởi những cơn đau và phải chịu đựng chứng bệnh nan y đang hủy hoại mình, Cousins đã thử một việc mà chưa ai nghĩ tới, ông mua phim hài về xem.

Trong số những phim ông ưa thích nhất có Marx Brothers (Anh Em Nhà Marx) và chương trình truyền hình Candid Camera, một chương trình nguyên bản về những trò chơi khăm, trong đó công chúng bị bẫy vào những tình huống hài hước bất ngờ và nhà đài quay lén. Một trong những trò chơi khăm đáng nhớ nhất là một hộp thư thoại đặt giữa đường đông đúc, nó phát ra tiếng và nói chuyện với khách bộ hành; rồi một tấm bảng “Nhà vệ sinh” được dán lên cửa tủ đựng ly tách trong một tòa nhà văn phòng. Sự bối rối của nhân vật và phản ứng tiếp theo của họ khiến người xem cười sặc sụa. “Tôi khám phá ra rằng 10 phút cười sảng khoái có tác dụng gây tê và đem đến cho tôi ít nhất hai tiếng ngủ ngon, không đau đớn”, Cousins viết. “Khi tác dụng giảm đau của những trận cười tan đi, chúng tôi lại bật máy chiếu phim, và thường là nó mang đến một khoảng thời gian không đau đớn khác. Hơn nữa, xét nghiệm máu cho thấy bệnh trạng của Cousins tiến triển tốt, từng chút một, sau mỗi trận cười. Đây là một bằng chứng về tác dụng sinh hóa, chứ không chỉ về mặt tâm lý. Và câu nói của Solomon thật sự uyên thâm, “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.”

Phấn chấn trước sự tiến triển của mình, Cousins thực hiện một bước tiến xa khác để phục hồi. Ông bàn bạc với bác sĩ về kế hoạch thứ hai của mình, và một lần nữa bác sĩ của ông hoàn toàn ủng hộ, vậy là ông xuất viện và ở trong một phòng khách sạn. Ngoài việc tiết kiệm được hai phần ba chi phí, Cousins nói những lợi ích có được là “không kể xiết”, ông có thời gian tĩnh dưỡng, không bị ai quấy rầy giấc ngủ, không còn bị đánh thức vì tới giờ tắm, giờ ăn, giờ uống thuốc, thay ra trải giường hoặc giờ kiểm tra của các bác sĩ thực tập. Ông tha hồ ăn thức ăn tươi ngon, giàu chất dinh dưỡng và được truyền một lượng lớn vitamin nhỏ giọt vào tĩnh mạch, điều mà ông tin là có thể giúp ích được ông.

Chậm mà chắc, ông dần dần hồi phục. Kế hoạch của ông giúp ông không còn lệ thuộc vào thuốc. Cousins có thể sống sót mà không cần bất cứ viên thuốc giảm đau hay thuốc ngủ nào trước sự kinh ngạc của bác sĩ điều trị. Xét nghiệm máu cho thấy tốc độ lắng hồng cầu (một tiêu chí thể hiện mức độ nghiêm trọng của bệnh) đang giảm đáng kể từng ngày. Ông bớt sốt và mạch cũng trở về bình thường. Ông biết rằng kế hoạch của mình hiệu quả. Norman Cousins đã đánh bại những khó khăn để tiếp tục sống.

Những nghiên cứu sau đó cho thấy, qua căn bệnh của mình, Norman Cousins tìm ra một điều mà ngành y  học đã hoàn toàn bỏ quên trong công cuộc tìm kiếm thuốc chữa bệnh. Tiếng cười đã được chứng minh là phương thuốc hiệu nghiệm giúp tăng cường hô hấp và nhịp thở, làm dịu cơn đau, giúp giảm căng thẳng, lo lắng và áp lực, làm giảm mức độ trầm cảm, cảm giác cô đơn hay tức giận, và cải thiện chức năng thần kinh (sự tỉnh táo, tính sáng tạo và trí nhớ). Thật ra, chính người sáng lập chương trình Candid Camera, một người đàn ông tên Allen Funt, đã cảm thấy hứng thú và ấn tượng bởi sức mạnh chữa bệnh của tiếng cười đến nỗi anh lập ra chương trình Laughter Therapy (Liệu Pháp Nụ Cười) cùng một tổ chức cá nhân phi lợi nhuận mà người chủ nhiệm chương trình hướng tới việc “mang đến nụ cười, niềm vui sướng và hy vọng là vài lợi ích điều trị cho những người mắc bệnh trầm kha”.

Sự hồi phục của Cousins, dưới bất kỳ góc độ nào, cũng hết sức khác thường và là cột mốc quan trọng trong cuộc đời ông. Quyển sách Phân Tích về Một Chứng Bệnh của ông đã trở thành tác phẩm bán chạy hàng đầu trên khắp thế giới, và là nguồn cảm hứng cho những nghiên cứu tiếp theo về hiệu quả chữa bệnh của tiếng cười. Ông còn viết một số quyển sách khác như Human Options (Những Lựa Chọn của Con người) và The Biology of Hope (Bản Chất của Hy Vọng) và sau này ông làm trợ giảng cho bộ môn Tính nhân văn trong Y học của Đại học Y bang California, nơi ông nghiên cứu về những phản ứng sinh hóa trong cảm xúc con người.

Norman Cousins đã tìm thấy mặt phải thông qua căn bệnh mà các bác sĩ cho là một trận chiến vô vọng để cứu sống chính mình. Qua những nỗ lực của bản thân, ông đã làm nổi bật hiệu quả trị liệu của những cảm xúc tích cực và mở ra khả năng biến nó thành một phương pháp y học chính thống. Bên cạnh việc khám phá sức mạnh chữa bệnh của tiếng cười và những cảm xúc tích cực đối với sức khỏe chúng ta, Cousins còn để lại một bài học quan trọng cho bất cứ ai đang phải đối mặt với những chẩn đoán bi quan, và đây cũng chính là bài học bản năng mà những người lạc quan như Mike Jetter từng nhận ra, đó là, mặc dù số liệu thống kê y học có thể tiết lộ những hiểu biết sâu rộng về bản chất của một căn bệnh, nhưng chúng ta đừng nên để những số liệu tiêu cực ấy gây hoang mang cho hy vọng hồi phục của chính mình. Một khía cạnh mà các số liệu thống kê không thể tính đến là hoàn cảnh và bản chất của mỗi cá nhân, và thành công hay thất bại trong việc vượt qua bất cứ nghịch cảnh nào cũng được khẳng định bởi cá nhân hơn là bất kỳ con số thống kê nào.

Nhận xét về toàn bộ trải nghiệm đã khiến ông thay đổi và bài học mà ông có được từ trải nghiệm đó, Norman Cousins viết: “Tôi đã học được rằng đừng bao giờ đánh giá thấp khả năng phục hồi trí tuệ cũng như thể chất của con người – ngay cả trong những viễn cảnh xem ra tồi tệ nhất. Sức sống có lẽ là sức mạnh mà chúng ta còn hiểu biết mơ hồ nhất trên trái đất này.”

KIỂM TRA MỨC ĐỘ LẠC QUAN

‘‘Đối với tôi, tôi là một người lạc quan – dường như tôi không cần điều gì hơn thế nữa. ” – Winston Churchill, 1874 – 1965

Điều gì đã khiến những người như Norman Cousins và Mike Jetter, cả những nhân vật mà ta đã gặp trong Phần Một của quyển sách này, có thể duy trì sự tích cực khi phải đối mặt với những hoàn cảnh quá sức éo le như vậy? Bất kể cuộc sống xô đẩy như thế nào, họ vẫn luôn giữ vững niềm tin vào tương lai, họ trông đợi kết quả tốt đẹp và họ thường nhận được kết quả tốt đẹp. Nhưng điều gì khiến con người ta lạc quan? Phải chăng tính lạc quan được kết nối trong chúng ta thông qua gen di truyền? Hay đó là thứ mà ta có được nhờ học hỏi? Quan trọng hơn cả, trong quá trình xem xét cách thức mà tính lạc quan và những suy nghĩ tích cực hình thành nên cuộc sống chúng ta, cụ thể hơn, là bằng cách nào mà nó có thể giúp ta vượt qua khó khăn để tìm ra mặt phải ngay cả trong nghịch cảnh, thì chúng ta phải đặt ra câu hỏi “Mình có thể học cách để trở nên lạc quan hơn không?”

Trước khi tìm ra lời đáp cho những câu hỏi này, bài trắc nghiệm mức độ lạc quan và bi quan của bạn dưới đây có thể khá thú vị. Các khoa tâm lý của nhiều trường đại học trên toàn thế giới dùng bảng câu hỏi ngắn gọn và đơn giản đến mức đáng kinh ngạc này để đo lường tính lạc quan. Bảng câu hỏi sau đây sẽ giúp bạn thật sự biết mình lạc quan hay bi quan đến mức nào.

Trước khi bạn bắt đầu làm bài kiểm tra, hãy nhớ rằng không có câu trả lời nào “đúng” hay “sai”. Hãy thành thật và chính xác hết mức có thể trong khi trả lời từng câu hỏi, và hãy trả lời dựa trên cảm xúc của riêng bạn, hơn là cố gắng đưa ra câu trả lời mà bạn nghĩ mình nên chọn, nếu không bạn chỉ tốn thời gian vô ích.

Trong mỗi câu hỏi, bạn có thể chọn một trong năm phương án trả lời thích hợp, mỗi phương án ứng với một giá trị số:

Hoàn toàn đồng ý = 4

Đồng ý = 3

Trung dung= 2

Không đồng ý= 1

Hoàn toàn không đồng ý= 0.

1. Ngay cả khi mọi việc dường như khó khăn và không theo ý mình, tôi vẫn tin rằng mọi việc đều có khuynh   hướng trở nên tốt nhất.

2. Tôi có nhiều kế hoạch cho tương lai.

3. Khi bị căng thẳng, tôi dễ dàng tìm được cách thư giãn và nghỉ ngơi.

4. Nếu một việc có khả năng bị trục trặc, thì nó sẽ bị trục trặc.

5. Tôi mong đợi những điều tốt lành xảy đến với mình hơn là những điều xấu.

6. Tôi thích dành thời gian cho bạn bè.

7. Tôi luôn có việc để làm.

8. Tôi thường mong chờ kết quả tệ hại nhất. Nhờ đó, tôi không bao giờ bị thất vọng.

9. Tôi hiếm khi buồn phiền khi mọi thứ không suôn sẻ.

10. Tôi không có khuynh hướng mong đợi những điều tốt đẹp sẽ đến với mình.

11. Tôi không trông đợi nhiều vào tương lai.

12. Khi tôi thức giấc vào buổi sáng, tôi rất phấn chấn bắt đầu một ngày mới.

Sau khi trả lời hết 12 câu hỏi, bạn sẽ có những con số ứng với từng câu trả lời của bạn. Hãy bỏ qua những câu trả lời cho các câu hỏi số 3, 6, 7 và 9. Những câu hỏi này không liên quan, chúng chỉ được đưa vào nhằm mục đích gây xao lãng và để tách biệt những câu hỏi khác. Bây giờ hãy đảo ngược những giá trị số bạn đưa ra cho các câu hỏi số 4, 8, 10 và 11 (tức là “Hoàn toàn đồng ý” bây giờ sẽ là số “0” và “Hoàn toàn không đồng ý” sẽ là số “4”), bởi vì những câu hỏi này được diễn đạt theo lối tiêu cực. Cuối cùng, hãy cộng tổng điểm của mình, bạn sẽ có một số trong khoảng từ 0 đến 32.

SỐ ĐIỂM ĐO MỨC ĐỘ LẠC QUAN CỦA BẠN NÓI LÊN ĐIÊU GÌ?

Điểm của bạn càng cao thì bạn càng có vẻ là người lạc quan. Điểm cao nhất là 32, và điểm trung bình là 16, điều này có nghĩa là nếu số điểm của bạn cao hơn 16, bạn được xem là người lạc quan và nếu điểm của bạn thấp hơn 16, bạn có xu hướng bi quan. Nhưng chỉ số trung bình cho những bài kiểm tra tương tự có thể  biến đổi dựa trên các dạng người được kiểm tra. Theo đó, nói một cách chắc chắn, điểm số trên 20 thể hiện tính lạc quan cao và trên 28 cho thấy một người cực kỳ lạc quan; ngược lại số điểm thấp hơn 12 thể hiện cái nhìn bi quan và nếu thấp hơn 6 cho thấy một người cực kỳ bi quan.

Từ những gì chúng ta học được ở Phần Một về mức độ ảnh hưởng của tính lạc quan lên cuộc sống của chúng ta, bạn có thể cảm thấy vui nếu điểm của bạn trên 20, hoặc bạn sẽ thất vọng một chút nếu điểm của bạn rơi vào mức thấp. Tuy nhiên, đây chỉ là một chỉ số thô sơ về mức độ lạc quan bạn có hoặc không trong ngày hôm nay. Ngày mai lại là một ngày khác, và như những gì chúng ta thấy, tính lạc quan không nhất thiết là một điều gì đó sắp đặt sẵn trong cuộc sống. Như mọi thứ khác trên thế giới, nó có thể và thật sự thay đổi, và điều thú vị nhất chính là: bạn có thể thay đổi nó.

SỰ LẠC QUAN TỪ ĐÂU TỚI?

Nhiều nhà tâm lý học đã từng tin (một số đến nay vẫn còn tin) rằng tính lạc quan phần lớn là “không thay đổi được”. Nó đã được xác định từ trước, một đặc điểm do di truyền hoặc do ta có được (hoặc không có được) từ thuở ấu thơ. Một cuộc nghiên cứu những cặp sinh đôi cùng giới tính người Thụy Điển ở độ tuổi trung niên  cho thấy yếu tố di truyền chi phối đến 25% cảm xúc lạc quan của chúng ta. Điều này đưa ra giả thuyết là có những ảnh hưởng khác trội hơn, hình thành nên cảm xúc lạc quan.

Một vài nhà nghiên cứu tin rằng tính lạc quan phần lớn được hình thành từ thuở ấu thơ. Ví dụ, các nhà nghiên cứu ở Khoa tâm lý học thuộc Đại học Helsinki đã phát hiện ra mức độ lạc quan của chúng ta bị ảnh hưởng vào khoảng từ 3 đến 6 tuổi và tác động lớn nhất đến mức độ lạc quan của trẻ chính là người mẹ.

Những nghiên cứu cho thấy nếu người mẹ nhận thấy con mình là đứa bé có tính khí khó khăn (ví dụ như bà khó quản lý bé được), bà sẽ giữ quan điểm nuôi dạy con “mạnh tay”, và chính phương pháp đó được cho là có ảnh hưởng đến mức độ lạc quan mai sau của đứa trẻ, cả đến lúc trưởng thành.

Hai mươi năm sau cuộc khảo sát đầu tiên về bà mẹ và trẻ em, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng những người thuở nhỏ được mẹ của họ nhận định là khó dạy thì khi lớn lên, họ trở thành những người bi quan. Trong vai trò của một người cha, điều này khiến tôi lo lắng. Tại sao tôi không tác động đến các con tôi được như vợ tôi? Tôi tin rằng câu trả lời nhiều khả năng dựa trên thực tế rằng, theo truyền thống, phần lớn thời gian bé ở cạnh mẹ nhiều hơn cha. Những nghiên cứu khác lại cho rằng cả cha lẫn mẹ đều phải chịu trách nhiệm (hoặc có công) trong việc hình thành nên tính cách của con. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy đứa bé lớn lên trở thành người lạc quan hay bi quan là do bé có được hay thiếu vắng sự yêu thương, chấp nhận, thông cảm và thấu hiểu của cả cha lẫn mẹ. Có lẽ, sự ảnh hưởng từ phía người cha xuất phát từ xu hướng phát triển ở xã hội phương Tây, khi cả cha lẫn mẹ đều phải đi làm và chia sẻ thời gian chăm sóc con cái với nhau.

Mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy quá khứ có ảnh hưởng lớn lao trong việc hình thành tính cách của chúng ta, nhưng con người chúng ta trong quá khứ hay hiện tại không nhất thiết sẽ là con người chúng ta trong tương lai. “Thay đổi có khả năng xảy ra”, Giáo sư Carver, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về tính lạc quan đã phát biểu như vậy, và nhiều  nhà tâm lý học lỗi lạc khác cũng đồng ý. Có một lý luận hết sức thuyết phục ủng hộ quan điểm này rằng chúng ta có thể học cách để trở nên lạc quan hơn.

TÍNH TUYỆT VỌNG ĐƯỢC HUẤN LUYỆN

Martin Seligman là một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng nhất nước Mỹ hiện nay. Vào năm 1998 ông được bầu làm Chủ tịch Hội các nhà tâm lý học Mỹ (APA) với tổng số phiếu thuận cao nhất trong lịch sử của hội, và trong một thống kê về tài liệu tâm lý học, người ta nhận ra rằng, trong suốt thế kỷ trước, Seligman là một trong 13 nhà tâm lý học được trích dẫn thường xuyên nhất trong phần giới thiệu của các quyển sách tâm lý. Hiện tại, ông là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về Tâm lý tích cực và Tính lạc quan, nhưng lĩnh vực nghiên cứu đã giúp Seligman trở nên nổi tiếng lại hoàn toàn trái ngược; đó là một học thuyết do ông phát triển trong đó giải thích bằng cách nào và tại sao con người trở nên tin rằng mình bất lực.

Seligman chứng minh rằng con người có thể trở nên suy sụp sau những trải nghiệm lặp đi lặp lại tới điểm họ cảm thấy bi quan cực độ. Các thí nghiệm của Seligman có tính thuyết phục đến mức ông được Cơ Quan Tình báo Trung ương (CIA) mời đến để trình bày về những phát hiện của mình, và theo một số báo cáo cho biết, CIA đã tham khảo các mô hình nghiên cứu của Seligman trong việc phát triển kỹ năng điều tra. Seligman gọi học thuyết của ông là “Tính tuyệt vọng được huấn luyện”.

Tính tuyệt vọng được huấn luyện là một trạng thái tâm lý có thể ảnh hưởng lên cả con người lẫn con vật. Đó là một khuynh hướng nhận thức về những trải nghiệm trong quá khứ theo cách nếu một hoàn cảnh tương tự xảy đến, bạn sẽ tin rằng mình không thể làm gì được trong tình huống đó. Bạn “biết” dù có cố gắng cũng chẳng ích gì vì những kinh nghiệm trong quá khứ đã dạy bạn rằng bạn bất lực không thể xoay chuyển tình thế. Những gì bạn làm trong quá khứ đều không thể thay đổi được gì. Thế là bạn bị thuyết phục rằng mình bất lực, thậm chí bạn chẳng buồn cố gắng để giúp bản thân mình.

Seligman tìm ra học thuyết này từ năm 1967 khi quan sát những con chó trong phòng thí nghiệm. Chúng được chia thành 3 nhóm; những con chó trong nhóm 1 chỉ bị cột chung lại với nhau trong một thời gian rồi thả ra. Những con chó trong nhóm 2 và 3 thì bị điện giật, khác ở chỗ là những con chó trong nhóm 2 có thể chấm dứt các cú điện giật bằng cách nhấn vào một cái cần gạt (chúng đã được dạy từ trước), trong khi những con chó ở nhóm 3 nhấn vào cần gạt thì không có gì thay đổi. Đối với chúng, các cú điện giật đến ngẫu nhiên và không thể nào thoát được.

Seligman phát hiện rằng những con chó trong nhóm 1 và 2 nhanh chóng hồi phục sau cuộc thí nghiệm, nhưng những con chó ở nhóm 3 thể hiện các triệu chứng trầm cảm lâm sàng. Trong phần hai của cuộc thí nghiệm, một lần nữa mấy con chó lại bị điện giật, nhưng lần này chúng có thể thoát khỏi cơn đau bằng cách nhảy qua một vách ngăn thấp. Các con chó thuộc nhóm 1 và 2 nhanh chóng nhảy qua vách ngăn và hết đau, nhưng hầu hết các con chó ở nhóm 3 không cố gắng làm gì cả. Chúng đã học được từ phần một của cuộc thí nghiệm rằng chúng bất lực, vì vậy chúng không cố gắng tìm cách thoát ra. Chúng trở thành nạn nhân cho các nhà khoa học tra tấn, bởi chúng đã học được từ trước rằng chúng không có khả năng thay đổi bất cứ điều gì, chúng chỉ biết nằm bẹp và rên rỉ.

Tuy nhiên, trong tất cả các thí nghiệm của Seligman với mấy con chó trong những năm cuối thập niên 60, không phải tất cả các con chó trong nhóm 3 đều trở nên tuyệt vọng. Seligman quan sát thấy khoảng 1/3 trong số những con chó đó không bỏ cuộc. Bằng cách nào đó, chúng đã tìm ra sức mạnh từ bên trong để tiếp tục tìm cách thoát khỏi cơn đau mặc dù chúng đã từng bất lực trong các thí nghiệm trước. Sau đó, các cuộc thí nghiệm ít gây khó chịu hơn và nhân văn hơn được tiến hành trên người, Seligman khám phá ra rằng cũng khoảng 1/3 số người tham gia thí nghiệm dường như có khả năng tự bảo vệ mình để không trở nên tuyệt vọng. Họ tiếp tục cố gắng mặc cho những thất bại và cản trở cứ lặp đi lặp lại. 2/3 số người còn lại dễ dàng bỏ cuộc. Qua những trải nghiệm cay đắng của cuộc đời, đa số chúng ta học cách cảm thấy mình bất lực. Họ sẽ tin rằng mình không thể kiểm soát được cuộc đời mình. Seligman nhận thấy cảm giác vô vọng này gắn liền với bệnh trầm cảm và khuynh hướng tự vẫn, và nó còn ảnh hưởng xấu đến hệ thống miễn dịch của chúng ta. Chứng cứ đã cho thấy những người trở nên tuyệt vọng hiếm khi tìm ra mặt phải trong nghịch cảnh.

HỌC CÁCH LẠC QUAN

‘‘Để thay đổi thế giới của mình, bạn phải tin rằng không phải cuộc sống xảy đến với bạn, mà bạn xảy đến với cuộc sống. Bạn không phải là một tấm vải bay phần phật trong gió. Bạn phải chọn trở thành nguyên nhân chứ không phải hệ quả. Bạn phải quyết định làm điều gì đó xảy ra. ” – Daniel R. Castro, Critical Choices That Changes Life (Những Lựa Chọn Quan Trọng làm Thay Đổi Cuộc Sống)

Mặt phải của những phát hiện này là sự nhận thức rằng nếu sự tuyệt vọng có thể học được, thì cũng có thể từ bỏ được. Seligman lập luận rằng, nếu con người học được cảm giác bất lực, thì họ cũng học được cách cảm thấy mạnh mẽ. Điều này dẫn tới rất nhiều khám phá tích cực nữa mà Seligman gọi là “Học cách lạc quan”. Theo Seligman, mọi người có “kiểu lý giải” của riêng mình, đó chủ yếu là cách chúng ta giải nghĩa cho những trải nghiệm trong cuộc sống. Những người bi quan cảm thấy họ là nạn nhân của những sự cố và bất lực không thể thay đổi bất cứ điều gì, trong khi những người lạc quan cảm thấy rằng họ có thể tạo nên sự khác biệt, họ tự tin rằng mình có thể tác động lên số phận của mình và mọi việc diễn ra xung quanh mình, và họ không xem mình là nạn nhân của hoàn cảnh. Người lạc quan giải nghĩa lại những trải nghiệm tiêu cực theo cách có thể giúp họ tiến lên, học hỏi và trưởng thành từ trải nghiệm; còn người bi quan, nếu được phép, họ chỉ nằm dài và than thở như những con chó tội nghiệp trong thí nghiệm của Seligman.

Seligman khám phá rằng kiểu lý giải lạc quan có ảnh hưởng tích cực lên sức khỏe chúng ta và giúp chúng ta chống lại những cảm xúc vô vọng hay trầm uất. Đây cũng là điều mà các nhà khoa học khác phát hiện ra, như đã được nhắc tới trong Phần Một. Tuy nhiên, đóng góp thật sự của Seligman là việc ông khám phá ra tính lạc quan không bền vững và không cố định. Ông chứng minh rằng tuy “kiểu lý giải” của một người có thể được hình thành từ lúc sinh ra hay từ thời thơ ấu nhưng vẫn thay đổi được; chúng ta có thể học cách trở nên lạc quan.

Những người lạc quan có niềm tin và cách tiếp cận cuộc sống, về căn bản, khác với những người còn lại. Họ tin rằng cuộc sống của họ không bị kiểm soát bởi số mệnh. Những người lạc quan chịu trách nhiệm cho tương lai của mình. Đây là lý do tại sao họ có khuynh hướng hành động và phản ứng khác với người khác trong những hoàn cảnh khó khăn, và cũng là lý do tại sao họ luôn tìm được mặt phải khi đối mặt với những trắc trở hay thất bại.

Ví dụ, Seligman khám phá ra rằng người lạc quan vun đắp lối sống lành mạnh, đi tìm sự chẩn đoán và tìm hiểu những phương pháp điều trị sẵn có khi họ cảm thấy không khỏe trong người, chứ không ngồi yên và làm theo chỉ dẫn của bác sĩ. Người lạc quan hành động để tránh những tình huống hiểm nguy hay tiêu cực, và nếu  mọi chuyện không diễn ra suôn sẻ, họ sẽ làm bất cứ điều gì để khắc phục nó. Sự tự tin của họ giúp họ không dễ dàng bỏ cuộc. Họ liên tục cố gắng, ngay cả trong những thời điểm khó khăn. Nếu vấn đề không thể được giải quyết, người lạc quan theo bản năng sẽ biết cách lý giải lại tình hình nhằm đạt được kết quả tốt nhất; họ lên kế hoạch cho tương lai và đặt ra cho mình những mục tiêu cá nhân cũng như trong công việc.

Người lạc quan có khuynh hướng hành động theo hiểu biết của họ. Họ nghiên cứu tình huống và tích lũy thông tin để giúp họ đưa ra các quyết định thích hợp nhất, và điều này hình thành cơ sở cho bất cứ hành động nào mà họ thực hiện. Họ chủ động theo đuổi ước mơ, chứ không ngồi yên như một người quan sát bị động và mặc cho cuộc sống diễn ra, đó là cách những người bi quan hay làm.

Người lạc quan cũng có khuynh hướng tìm kiếm và duy trì mối quan hệ xã hội rộng rãi, đó là yếu tố thường thấy trong những câu chuyện của những người tìm thấy mặt phải. Hầu như không có ngoại lệ, người ta tin cậy những người thân cận nhất – bạn bè và gia đình – những người sẽ giúp đỡ họ vượt qua những thời điểm gay go nhất trong cuộc sống.

Cách hành động của người lạc quan và người bi quan

Trông đợi kết quả tích cực Trông đợi kết quả tiêu cực
Chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình Bào chữa và đổ lỗi
Tin tưởng vào sức mạnh bản thân Tin vào số mệnh hoặc ý Trời
Khi đối mặt với các vấn đề hay khó khăn, họ tìm kiếm giải pháp Khi đối mặt với các vấn đề hay khó khăn, họ than phiền
Tập trung vào tương lai Luôn nhớ về quá khứ
Phát triển khả năng Đau buồn vì mình thiếu khả năng
Theo đuổi những mục tiêu và ước mơ cụ thể Trôi dạt vô định trong cuộc sống
Tìm kiếm cơ hội trong khó khăn Chỉ nhìn thấy khó khăn và bất trắc
Có mối quan hệ xã hội rộng và sẵn sàng hỗ trợ Quan hệ với những người tiêu cực
Kiên trì sau thất           bại Bỏ cuộc sau bại           những dấu hiệu             đầu tiên của thất bại

Giáo sư Charles Carver tin rằng “Liệu pháp nhận thức hành vi” (CBT) là phương pháp giúp con người trở nên lạc quan hơn. CBT là một thuật ngữ chung cho một vài liệu pháp tâm lý nhằm hướng dẫn một người thay đổi cách suy nghĩ, niềm tin của họ và qua đó người ta lập luận rằng, giúp họ thay đổi cảm nhận về chính bản thân mình. Đây không phải là một quá trình ngày một ngày hai, nhưng trong nhiều trường hợp, nó thật sự có hiệu quả. Tuy nhiên, ngoài CBT, vẫn còn một số phương pháp khác rèn luyện tính lạc quan.

KHOA HỌC MÔ PHỎNG

Nếu bạn muốn học cách trở nên lạc quan và tìm ra mặt phải trong cuộc sống, thì việc biết được các phương  pháp mà người lạc quan sử dụng là điều cực kỳ quan trọng. Nếu chúng ta có thể hiểu được niềm tin của họ và học cách hành xử của họ, hoặc theo cách các nhà Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (NLP) nói là “mô phỏng họ”, thì sau đó chúng ta sẽ bắt đầu trải nghiệm những kết quả tương tự.

Mô phỏng là một kỹ thuật được dùng phổ biến trong Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (NLP). Đó là một hệ thống được thiết kế để sao chép các kết quả mà người khác gặt hái được, trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống, về cơ bản, đó là một hình thức học cấp tốc bằng cách bắt chước cách làm của người khác và có niềm tin giống họ. Nhưng cũng phải tính đến những khác biệt về thể chất hoặc tâm lý; một người đàn ông thấp hơn Michael Jordan 6 tấc sẽ không có thể chơi bóng rổ được như Jordan. Tương tự, một người phụ nữ mắc bệnh tiểu đường không thể mong đợi quá trình cải thiện sức khỏe giống hệt một người phụ nữ khác có tuyến tụy khỏe mạnh bằng cách làm theo các bài tập thể dục và chế độ ăn kiêng của người đó. Nhưng, tùy thuộc vào những khác biệt đã biết về thể chất và tâm lý, việc sao chép niềm tin và hành động của người khác có thể dẫn đến những kết quả giống hệt hay tương tự những gì họ đạt được trong cuộc sống.

Chuyên viên lỗi lạc về NLP và cũng là tác giả được săn đón nhất, Anthony Robbins, đã chứng minh hiệu quả của phương pháp mô phỏng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong cuộc phỏng vấn với đài CNN, ông đã nói về một tình huống trong đó ông thử thách quân đội Hoa Kỳ cho ông tiến hành bất cứ chương trình huấn luyện nào, ông sẽ rút ngắn thời gian huấn luyện xuống còn một nửa, đồng thời gia tăng mức độ tinh thông của các binh sĩ tham gia chương trình.

Quân đội Hoa Kỳ chấp nhận thử thách và giao cho Robbins nhiệm vụ cải tiến khóa huấn luyện môn bắn súng lục. Phía quân đội phát triển chương trình học 4 ngày, và dựa trên những ghi nhận của chính họ, 70% số binh sĩ qua được kỳ kiểm tra khả năng cuối khóa. Nếu Robbins có thể giảm thời gian huấn luyện xuống còn hai ngày, và tăng mức độ tinh thông của các binh sĩ lên trên 70%, ông sẽ được trả công. Nếu một trong hai điều kiện đặt ra không đạt được thì ông sẽ không được gì cả.

Robbins chưa hề biết gì về môn bắn súng lục. Thực tế là, trước thử thách này, ông chưa từng đụng vào một khẩu súng lục. Nhưng sự thiếu thốn về kiến thức và kinh nghiệm không ảnh hưởng gì nhiều. Ông học tất cả những điều ông cần biết bằng cách phỏng vấn các tay súng giỏi nhất trong quân đội. Ông giải thích, “Tôi có những tay súng thiện xạ nhất thế giới, và tôi nhờ họ tới bắn cho tôi xem, rồi tôi yêu cầu họ dừng lại sau từng bước”. “Trong đầu bạn đang nghĩ gì? Bạn đang làm gì? Và tôi nhận ra điểm chung trong cách họ bắn. Họ thậm chí không nhận ra mình đang làm gì.” Rồi Robbins so sánh những hành động của họ với những binh sĩ bắn kém. Ông nói, “Sự khác biệt rất rõ rệt, thành công có phương pháp của nó.”

Sau đó Robbins phát triển một khóa bắn súng lục dựa trên niềm tin và cách hành động then chốt của những tay thiện xạ thay vì theo những chỉ dẫn chuẩn mực trong sách vở. Chỉ mất một ngày để hoàn thành khóa huấn luyện của ông, và lần đầu tiên trong lịch sử huấn luyện bắn súng lục của quân đội Mỹ, tất cả binh sĩ tham gia đều đậu kỳ kiểm tra khả năng. Đó là một bước tiến triển lớn so với khóa học ban đầu của quân đội.

Phương pháp mô phỏng có thể dùng trong bất cứ việc gì ta cần học và là một trong những thành phần cốt  lõi của Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (NLP). Phương pháp này được áp dụng thành công trong việc giúp con người đạt được những kết quả tốt hơn trong thể thao, kinh doanh và trong cả các mối quan hệ cá nhân. Bằng việc mô phỏng những người cực kỳ lạc quan, những người có bản chất bi quan tự họ có thể nhanh chóng học được cách trở nên lạc quan hơn và đạt được nhiều kết quả tương tự trong cuộc sống. Nếu chúng ta hiểu được quá trình suy nghĩ của người lạc quan và những hành vi của họ, khám phá những phương pháp họ dùng và chú ý cách họ phản ứng với khó khăn, chúng ta có thể nhìn thấu một cách chính xác điều gì giúp họ tìm ra mặt phải.

Suzanne Segerstrom là Phó giáo sư làm việc tại Khoa tâm lý học thuộc Đại học Kentucky và là một nhà nghiên cứu được nể trọng trong lĩnh vực này. Bà cũng tin rằng sự lạc quan  là một tính cách có thể rèn luyện được. Trong một nghiên cứu kéo dài mười năm, Segerstrom đã chứng minh rằng tính lạc quan chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trong phương pháp cũng như những trải nghiệm của chúng ta. Bà cũng cho rằng những thay đổi này có thể và thật sự xảy ra lúc ta trưởng thành. Ví dụ, trong một nghiên cứu về phụ nữ, người ta phát hiện rằng khi những khó khăn trong công việc và với người bạn đời của phụ nữ tăng lên, mức độ lạc quan của họ sẽ giảm.

Hơn nữa, Tiến sĩ Segerstrom phát biểu rằng có bằng chứng cho thấy trạng thái lạc quan của chúng ta có thể thay đổi “qua từng giai đoạn ngắn – từ hàng tuần đến hàng tháng”. Bà cũng khẳng định sự thay đổi về tính lạc quan của một người có liên quan đến sự thay đổi về sức khỏe và tinh thần của người đó. Bà nói, “Người lạc quan luôn cảm thấy mạnh khỏe hơn về thể trạng lẫn thoải mái hơn về tinh thần.” Rõ ràng là có nhiều lý do tốt để bạn cố gắng trở nên lạc quan hơn một cách có ý thức.

Trong quyển sách của bà Breaking Murphy’s Law (Phá Vỡ Định Luật Murphy), Tiến sĩ Segerstrom đề xuất những phương án khuyến khích tính lạc quan khác với “Liệu pháp nhận thức hành vi” (CBT). Bà tin rằng nếu chúng ta tập trung vào những hành động của mình, theo chân những người lạc quan bằng cách tỏ ra lạc quan và tích cực, thì suy nghĩ và niềm tin của chúng ta cũng sẽ thay đổi theo. Điều này hỗ trợ phương pháp mô phỏng của Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (NLP). Ví dụ như, theo thuyết NLP, những người cảm thấy đau buồn, suy sụp thường có chức năng sinh lý và dáng điệu cụ thể. Lưng của họ còng xuống, hai vai xệ, đầu gục xuống, hơi thở ngắn và giọng nói mệt mỏi, đều đều. Ngược lại, khi ngồi thẳng hay đứng thẳng, đầu ngẩng cao, vai thẳng lên và thở sâu, bạn sẽ khó mà cảm thấy buồn rầu. Chức năng sinh lý và dáng điệu cơ thể tác động đến suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta.

Những điều các nhà Lập Trình Ngôn Ngữ Tư duy và Tiến sĩ Segerstrom muốn nói đến, đó là khi chúng ta biểu hiện “như thể” chúng ta lạc quan, ví dụ như đi tìm những lợi ích và cơ hội, vẫn kiên trì sau nhiều lần thất bại, chúng ta sẽ có khuynh hướng nhận được kết quả giống như những người lạc quan đạt được và sẽ bắt đầu cảm thấy lạc quan.

NUÔI DƯỠNG CON NGƯỜI LẠC QUAN TRONG TA

Một người Mỹ da đỏ từng miêu tả sự tranh đấu bên trong con người mình. Anh nói rằng anh cảm thấy có hai con sói bên trong anh, một con bi quan và một con lạc quan. “Con bi quan luôn khiêu chiến với con lạc quan”, anh nói. Khi được hỏi rằng con sói nào thắng, anh suy nghĩ chốc lát rồi trả lời, “Con sói mà tôi quyết định cho ăn”. Peter Schulman, Trưởng ban nghiên cứu tại Khoa tâm lý học của Đại học Pennsylvia là người hiểu rõ hơn cả về những thử thách của việc sống lạc quan. Ông nói, “Ngay cả một người lạc quan vững vàng nhất cũng thỉnh thoảng bi quan khi phải đối mặt với căng thẳng cực độ hay kéo dài. Dường như tất cả chúng ta đều có một con người bi quan và một con người lạc quan bên trong chúng ta, và con người nào đi cùng ta hết một ngày chính là con người mà chúng ta quyết định nuôi dưỡng.”

20 người đàn ông và phụ nữ khỏe mạnh có độ tuổi trung bình là 33 cùng ngồi xem cảnh mở màn của bộ phim Saving Private Ryan (Giải Cứu Binh Nhì Ryan). Đó là khoảng thời gian 24 phút cực kỳ căng thẳng và áp lực khi họ theo chân một nhóm binh lính vào sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944 đổ bộ xuống vùng Normandy nước Pháp. Trong cuộc xâm chiếm lớn nhất trong chiến tranh từ trước đến nay này, diễn ra trong vòng một ngày, 130.000 quân liên minh càn quét bãi biển vùng Normandy. Cảnh mở màn của bộ phim đáng chú ý ở chỗ nó lôi cuốn người xem vào chính bối cảnh đó. Cách bộ phim dựng lại nỗi kinh hoàng của chiến tranh hết sức hấp dẫn, nhưng đồng thời, không phải ai cũng xem nổi. Một điều mà khán giả không hề biết, đó là trong quá trình xem phim, có những biến đổi sinh hóa, nội tiết tố diễn ra trong cơ thể họ. Ngay cả những khán giả trong số 20 người nói trên đã từng xem qua bộ phim này cũng vẫn bị ảnh hưởng. Lưu lượng máu trung bình trong tĩnh mạch và động mạch của họ bị tắc nghẽn đến 35%.

48 giờ sau, cũng những khán giả đó được xem một đoạn ngắn 15 phút trích trong phim Kingpin, một phim hài nhẹ nhàng. Lần này, lưu lượng máu của họ được cải thiện 22%, chất endorphin được giải phóng, đồng thời các nhà khoa học cũng khám phá ra tác dụng của tiếng cười cũng tương tự như lợi ích mà các bài tập thể dục mang lại. Như vậy, càng có cơ sở để khẳng định việc Norman Cousins phát hiện ra hiệu quả giảm đau của tiếng cười là một bước đột phá lớn trong y học.

Những thay đổi sinh hóa xảy ra trong quá trình khán giả xem phim chứng tỏ cơ thể chúng ta rất dễ bị tác động bởi những sự việc diễn ra xung quanh. Nghiên cứu của Giáo sư Dan Ariely tại trường Đại học Duke cho thấy suy nghĩ và sự trông đợi của chúng ta thậm chí còn bị tác động bởi những gì ta đọc. Ví dụ, ông phát hiện ra bằng cách thêm những từ ngữ biểu cảm vào một bài viết và giao cho một nhóm sinh viên đọc, ông có thể gây ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của những sinh viên này. Một nhóm sinh viên được giao nhiệm vụ tìm những từ hung hăng, thô lỗ, khó chịu và xâm phạm trong một bài viết, còn một nhóm khác được giao nhiệm vụ tìm những từ ngữ ý tứ, lịch sự và thông cảm. Các sinh viên sau đó được yêu cầu sang phòng khác và báo cáo cho một nhà nghiên cứu lâm sàng. Khi các sinh viên đến, nhà nghiên cứu lâm sàng này cứ mải mê nói chuyện với trợ tá của mình (tình huống này đã được sắp xếp từ trước). Các sinh viên tìm những từ ngữ lịch sự trước đó sẽ ngồi đợi, trung bình 9,3 phút trước khi ngắt lời nhà nghiên cứu lâm sàng, trong khi các sinh viên tìm những từ ngữ khó chịu chỉ đợi khoảng 5,5 phút là họ xía vào.

Các nghiên cứu tương tự cũng cho ra kết quả giống vậy; những từ ngữ dùng trong bảng thăm dò ý kiến liên quan đến việc người lớn tuổi hơn hay người già thật sự ảnh hưởng đến thái độ của các sinh viên. Những sinh viên được đưa cho bảng khảo sát có chứa các từ ngữ gắn liền với người già như bang Florida, trò bingo và cổ xưa sẽ thong thả bước ra khỏi phòng kiểm tra, và đi dọc hành lang với tốc độ giống với những người lớn tuổi, yếu đuối, chậm hơn đáng kể so với nhóm sinh viên đối chứng. Nghiên cứu mà tôi tâm đắc nhất trong các thí nghiệm của Giáo sư Ariely về lĩnh vực này là một thí nghiệm liên quan đến tính trung thực. Các sinh viên được yêu cầu viết ra “10 điều răn của Chúa” trước khi làm một bài kiểm tra toán đơn giản và họ được cho cơ hội để gian lận (bằng cách tự chấm điểm bài kiểm tra của mình). Kết quả cho thấy, việc nhắc nhở các sinh viên về 10 điều răn rõ ràng tác động đến cách hành xử của họ; họ hành động trung thực hơn nhiều so với nhóm sinh viên đối chứng.

Những điều mà Giáo sư Ariely chứng minh trong các thí nghiệm của ông cho thấy chúng ta rất dễ bị ảnh hưởng bởi những sự việc diễn ra xung quanh mình. Theo như các khảo sát của ông, thì những quyết định và hành động của chúng ta là hoàn toàn vô thức (nghĩa là hiếm khi nó là kết quả của suy luận có ý thức và lập luận có cơ sở), nhưng đồng thời, những hành động này rất dễ dự đoán được. Tuy nhiên, Giáo sư Ariely cũng dạy chúng ta rằng một khi đã hiểu về nguyên lý ảnh hưởng của những thứ ta nghe và thấy lên suy nghĩ và hành động chúng ta, chúng ta có thể biến nó thành lợi thế. Tương tự cách mà Norman Cousins tự tăng cường hệ thống miễn dịch của ông, cải thiện lưu lượng máu và kiểm soát cơn đau bằng cách xem phim hài, chúng ta có thể bắt đầu chi phối suy nghĩ và cảm xúc của mình bằng cách kiểm soát những gì ta xem trên tivi, những thứ ta đọc, những người ta giao tiếp. Nếu chúng ta có thể tạo ra sự căng thẳng thông qua một bộ phim, và ảnh hưởng đến sự trung thực, lịch sự và thậm chí cả sức mạnh và khả năng bản thân bằng từ ngữ, thì chắc chắn chúng ta có thể áp dụng những phương pháp tương tự để nâng cao kỳ vọng của mình và học cách trở nên lạc quan hơn.

Vậy là chúng ta đã hiểu sự lạc quan là một yếu tố quan trọng để vượt qua bất cứ khó khăn hay thất bại nào. Người lạc quan có thể chiến thắng dễ dàng trong hầu hết mọi lĩnh vực cuộc sống. Nhưng sự lạc quan cũng có thể thay đổi được, và có rất nhiều cách mà chúng ta có thể học để trở nên lạc quan hơn. Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), mô phỏng, hành động như thể chúng ta lạc quan và kiểm soát hoàn cảnh xung quanh. Nói một cách cụ thể hơn, những gì chúng ta đưa vào tâm trí mình chỉ là một vài ví dụ về cách thức giúp chúng ta thoát khỏi sự bi quan và qua đó học cách trông đợi và cảm nhận một tương lai tươi sáng hơn. Đây là bước đầu tiên trên con đường đi tìm mặt phải.